- Lịch sử Ngài A-nậu-lâu-đà
(Anuruddha)
- Ðức ngữ: Hellmuth Hecker; Anh ngữ:
Nyànaponika
Việt ngữ: Nguyễn Ðiều (1993)
- Phần 2
- II
- A NẬU LÂU ÐÀ TIẾN LÊN
THÁNH HẠNH A LA HÁN
Sau khi đắc được Thiên Nhãn
Thông và các thần thông khác, nhờ tinh tấn thực hành Thiền định (Samàdhi),
nhất là đã vượt lên các bậc Thiền Hữu sắc, A Nậu Lâu Ðà nguyện nhất
tâm phát triển xa hơn nữa công phu thiền pháp của mình, hầu sớm đạt
đến đạo quả giải thoát A-la-hán (Arahatta). Nhưng trước khi chứng thật
cứu cánh ấy, ông đã phải rèn luyện thánh hạnh và đấu tranh rất nhiều
với bản thân, để tẩy trừ mọi phiền não vi tế trong tâm, nhất là căn
tính cuối cùng của cái "ta" là "không muốn hành động theo ý
của người khác". Có ba thuật sự gương mẫu đáng kể lại cho đời
sau là:
Một lần nọ, Thiền sư A Nậu Lâu
Ðà tịnh tu cùng với Sa-môn Nandiya, vốn là anh em chú bác trong hoàng tộc,
(theo Tôn Túc Kệ Ngôn câu 25: Theragàthà 25), và Tỳ-khưu Kimbila, em ruột của
ông, (theo Tôn Túc Kệ Ngôn câu 118, và Tăng Chi A Hàm số 5/201, 6/40, 7/56, cũng
như Tạp A Hàm số 54/10 = Theragàthà 118, Anguttara Nikàya 5/201, 6/40, 7/56,
Samyutta 54/10).
Cả ba vị đã đến hành thiền giữa
ngôi rừng phía Ðông vườn Trúc Lâm, một cách hoàn toàn "cô độc".
Ý nói tuy họ có mặt đến ba người trong cùng một hoang địa. Nhưng hằng
ngày họ chẳng bao giờ gặp nhau. Trình độ thuần thục thiền pháp của họ
đã hoàn toàn vững chắc, khiến cả ba hành giả thật không cần sự hỗ
trợ qua lại. Tuy nhiên, luật cộng đồng chẳng cho phép họ sống biền biệt,
nên họ phải ước hẹn cứ mười lăm ngày hội họp một lần, để làm
lễ "phát lồ" (sám hối) và luận đạo. Sự hội họp của họ
cũng an lạc, hòa thuận một cách đặc biệt, đến đỗi biến thành ba huyền
thoại phạm hạnh, loan truyền ra khắp vùng xung quanh, khiến cho ai nghe cũng
khen ngợi! Không như nhóm Tăng sĩ luôn luôn gây gổ, chia rẽ nhau ở
Kosambì!
Khi đức Phật đến thăm ba đệ tử
ấy và hỏi Sa-môn A Nậu Lâu Ðà nhờ pháp gì mà ông sống hòa thuận một
cách tuyệt đối với hai huynh đệ, thì được ông trả lời:
- Bạch đức Thế Tôn! Thật vậy,
chúng đệ tử ba Tỳ-khưu ẩn tu trong ngôi rừng này, hằng ngày hành động
qua thân, khẩu hay ý, luôn luôn dựa trên thiện pháp quên mình, dẹp bỏ
cái "ngã" và làm mọi cách đem an vui đến những người xung quanh.
Pháp ấy không bắt buộc chúng đệ tử phải thường xuyên gặp nhau bằng
xương bằng thịt, mà vẫn gặp nhau bằng tâm hồn ôn hòa, từ ái. Không
có một hành động, lời nói hay ý nghĩ nào của chúng đệ tử ba người
mà bắt nguồn từ sự bất thiện cảm với đồng đạo, có thể phát
sinh. Thành thử sự bình an và hòa thuận là một tịnh quả tất nhiên. Mỗi
cá nhân trong chúng đệ tử luôn luôn tâm niệm rằng: "Khi ta muốn làm
một điều gì, thì ta hãy dẹp cái điều ta muốn sang một bên, và ta phải
cố gắng làm những điều mà huynh đệ ta muốn". Rồi chúng đệ tử
cả ba đều hành động như thế, nên an vui vô cùng. Có thể nói là chúng
đệ tử tuy ba người, nhưng chỉ có một tâm hồn thiện hạnh nằm trong
ba thân thể tạm bợ này.
Tiếp theo đức Phật hỏi A Nậu Lâu
Ðà về tiến bộ tu tập của cả ba Sa-môn ra sao, xem họ có thành quả
tâm linh nào đáng kể, vượt khỏi khả năng trung bình phàm tình hay không,
thì được A Nậu Lâu Ðà trả lời:
- Bạch đức Thế Tôn! Chúng đệ tử
đã gặp nhiều chướng ngại pháp, nhất là "nội ma" trong tâm
luôn luôn quấy nhiễu, nhưng nhờ tinh tấn và kiên trì dẹp bỏ cái
"ta" mà chúng đệ tử đã vượt qua. Giờ đây chúng đệ tử đã
củng cố được linh lực của trí tuệ, chứng thật sự bừng sáng của nội
tâm - Obhàsa Sannà (1), thấy rõ nhiều "hình thái" vô cùng quang
minh, kỳ diệu và vi tế - Rùpànaô Dassana (2) .
Nhưng bạch đức Thế Tôn! Kết quả
siêu phàm ấy, chúng đệ tử chỉ chứng đắc trong khi hành thiền mà
thôi, chứ bình thường không thể vận dụng được! Và chúng đệ tử không
hiểu tại sao? Yêu cầu đức Bổn Sư chỉ dạy.
Ðức Phật liền giảng giải rằng:
- Một hành giả khi tham thiền, đối
diện với trạng thái tâm linh biến hiện có điều kiện tiên lập như thế,
mà muốn vượt qua thì phải tinh tấn loại trừ mười một Tùy phiền não
(Ekadasùpakkilesà).
- Nầy A Nậu Lâu Ðà! Vậy chứ mười
một Tùy phiền não ấy là gì? Là Hoang mang (hồ nghi), Lơ đãng (phóng
tâm), Mỏi mệt (buồn ngủ) và Lo âu (hồi hộp) (3) v.v... Bốn chướng ngại
pháp đầu tiên này nếu hành giả không vượt qua thì chẳng thể tu thiền
được! Còn ngược lại nếu họ chiến thắng nổi chúng, thì bảy Tùy phiền
não tiếp theo sẽ lần lượt phát sanh, hễ cái nầy bị loại thì cái kia
hiện ra, như một hàng số lũy tiến, số sau là kết tập của số trước.
- Này A Nậu Lâu Ðà! Ví thử có một
hành giả, nhờ tinh tấn tu thiền mà vượt thắng được bốn Tùy phiền
não đầu tiên nói trên, thì họ sẽ thụ chứng rõ rệt một trạng thái
Khoái cảm thuộc về thân thể rất đáng ưa thích. Sự "khoái cảm"
ấy sẽ nhập vào ý thức, biến thành một thứ Phỉ lạc làm cho tâm tư
nhẹ nhàng, ngây ngất, ngây ngất đến độ họ có thể bị mắc dính
trong "phỉ lạc", không muốn mất "phỉ lạc". Tình trạng
này làm cho nhiều thiền giả bị dừng lại ở đó, không tiến xa trên con
đường tu thiền. Nhưng nếu có hành giả dũng mãnh tinh tấn hơn nữa, thì
họ phải sử dụng một thiền lực Cực tịnh, tách rời mọi sự ưa thích
phỉ lạc, để đưa tâm linh quán trú vào đề mục. Từ đó "thiền lực
cực tịnh" ấy sẽ đẩy tâm tư của thiền giả vào một trạng thái
mới gọi là Tán thức, tức là khi vượt qua giai đoạn "phỉ lạc",
thiền giả vốn dùng quá nhiều "định lực" (Cực tịnh), nên thiền
tâm lại rơi vào trong tình trạng "tán thức", nghĩa là như muốn
bay bổng, hụt hẩng, như muốn khinh thân vậy. Và vì cường độ cảm nhận
ngoại trần ở tình trạng "tán thức" này rất yếu, nhường chỗ
cho những tỉnh niệm hướng thượng, nhất là hướng về Thiên giới, hay
Phi địa tiên, hoặc hội tụ để phát sinh "nội quang" trong tâm
thiền giả.
Nhưng này A Nậu Lâu Ðà! Khoảng giữa
"Cực tịnh" và "Tán thức" lại có một giai đoạn mà thiền
tâm của hành giả hội tụ ở nhiều "cảnh sắc" khác nhau, thường
là thiền tâm ấy vừa hội tụ vừa tìm kiếm những cảnh sắc thích hợp
để thử an trú nơi đó, nên cái " nội quang" nói trên chợt xuất
hiện, chợt biến mất, và lập lại nhiều lần, khiến cho hành giả sinh
lòng ham muốn nắm giữ. Kết quả, có một Tùy phiền não thứ chín xuất
hiện là Dự tưởng. "Dự tưởng" này sẽ dẫn thiền tâm của
hành giả đến nhiều "Nhiễu ấn" chập chờn, để cuối cùng chỉ
có một "Ấn pháp" thích hợp ở lại để làm điểm tựa cho thiền
tâm. Và sự thỏa mãn của hành giả cũng sẽ phát khởi để ôm chặt
"Ấn pháp", rồi gia tăng tinh tấn. Mức độ gia tăng tinh tấn của
Tùy phiền não thứ mười này sẵn được thỏa mãn của hành giả hỗ trợ,
nên rất mạnh, có thể đưa đến Tùy phiền não thứ mười một là Chấp
niệm.
Và này A Nậu Lâu Ðà! Một thiền
giả khi rơi vào trong Tùy phiền não "Chấp niệm" mà không biết
áp dụng pháp Tứ Vô Lượng Tâm, nhất là pháp Vô Lượng Tâm Xả, để giải
trừ, thì sẽ bị lầm lạc.
(Lời thêm của dịch giả: Ðể cho quí vị dễ
nhớ hơn, chúng tôi xin kê khai vắn tắt, tên của mười một Tùy phiền
não theo thứ tự như sau: 1/ Hoang mang, 2/ Lơ đãng, 3/ Mỏi mệt, 4/ Lo âu, 5/
Khoái cảm, 6/ Phỉ lạc, 7/ Cực tịnh, 8/ Tán thức, 9/ Dự tưởng, 10/ Nhiễu
ấn, 11/ Chấp niệm. Ngoài ra, ba ký số (1), (2) trong lời thưa của A Nậu Lâu
Ðà và (3) trong lời giảng của đức Phật, cũng xin chú thích như sau:
(1) Sự bừng sáng trong tâm: Obhàsa Sannà, ám chỉ
những ảnh tượng có hào quang. Nhưng theo chú giải, trạng thái ấy còn
có tên là Parikammobhàsa, tức là thiền giả đã đạt được Cận định,
gần đắc vào Nhất Thiền, nên mới có ánh sáng như thế.
(2) Rùpànâ Dassanâ ám chỉ sự thấy tương
đương với bậc có Thiên Nhãn Thông.
(3) Lo âu là Tùy phiền não thứ tư, ám chỉ phản
ứng của hành giả trước các quái tượng thường hiện ra, có đặc tính
gây sợ sệt cho những ai tu thiền, đã cố gắng vượt qua ba Tùy phiền
não đầu. Các quái tượng này hầu hết không phải do ma chướng trong tâm
thiền giả hiển lộng, mà là do những chúng sanh vô hình, như ngạ quỉ
hay A tu la chẳng hạn, sống trong môi trường của người tu thiền, đồng
thời tịnh tâm của người tu thiền cũng thuần thục, có thể "giao kiến"
được với những chúng sanh vô hình đó.)
Theo kinh Trung A Hàm số 128 (Majjhima
Nikàya 128) thì khi ấy đức Phật đã giảng giải rõ mười một Tùy phiền
não luôn luôn xảy ra cho một thiền giả nhiều quyết tâm, nhẫn nại và
tinh tấn, đúng như kinh nghiệm bản thân của Phật đã từng trải qua, chứ
không phải do Ngài dùng Thánh tuệ của một bậc Toàn Giác mà biết được.
Phần cuối, đức Phật lại dạy
cho A Nậu Lâu Ðà cách áp dụng Vô Lượng Tâm Xả để giải trừ Tùy phiền
não thứ mười một, và cũng là "Tùy phiền não chót" trong các chướng
ngại pháp, hầu giúp ông tiến lên Thánh hạnh một cách vững chắc. Ðoạn
đức Phật chúc lành cho ba đệ tử tinh tấn tu hành, rồi Ngài trở lại
Trúc Lâm tịnh xá...
A Nậu Lâu Ðà, sau đó tuy đã tiến
triển mỗi ngày một tinh vi trong các bậc thiền, và dù hoàn toàn thuần thục
trong nhiều Tịnh pháp Hữu sắc, thế mà một hôm ông đã đến gặp Trưởng
lão Xá Lợi Phất (Sàrìputta) và nói rằng:
- Này đạo huynh Xá Lợi Phất! Bằng
"con mắt thanh tịnh" (Thiên Nhãn) đã được định lực rèn luyện,
trở nên siêu phàm, tiểu đệ thường nhìn thấy hàng ngàn vạn chiều vũ
trụ. Nhất thời nguyện lực của tiểu đệ rất hùng hậu và bất thối.
Tinh thần của tiểu đệ luôn luôn giác tỉnh và sáng tỏ. Thể xác của
tiểu đệ đang lành mạnh và không bị kích thích bởi bất cứ trần cảnh
gì. Trí nhớ của tiểu đệ có thể gợi lại dễ dàng và rõ rệt trước
mọi đề mục. Thế nhưng tâm linh của tiểu đệ hiện tại vẫn chưa được
tự do, giải thoát khỏi những phiền não vi tế là nghĩa làm sao?
Trưởng lão Xá Lợi Phất liền trả
lời:
- Này hiền đệ A Nậu Lâu Ðà! Khi
hiền đệ nghĩ rằng hiền đệ đã đắc "Thiên Nhãn", có thể
nhìn thấy ngàn vạn chiều vũ trụ, tức là sự tự phụ đang hiện diện
trong tâm hiền đệ! Khi hiền đệ nghĩ rằng nguyện lực của hiền đệ
đang bất chuyển, tinh thần của hiền đệ luôn luôn giác tỉnh, thân thể
của hiền đệ vẫn lành mạnh, trí nhớ của hiền đệ hằng minh mẫn, tức
là sự loạn động vì tự mãn (một loại tư duy ràng buộc) đang có mặt
trong tâm hiền đệ đấy. Khi hiền đệ nghĩ rằng tâm linh của mình không
được tự do với những phiền não vi tế, tức là hiền đệ bị chướng
ngại pháp Hồ nghi quấy nhiễu. Tốt hơn hiền đệ nên xua đuổi ba thứ
tư tưởng bất thiện ấy đi, rồi dồn hết mọi tư duy vào các pháp Vô
thường, Khổ não và Vô ngã, nhất là dồn chú ý vào cứu cánh "Bất
hữu", "Bất thủ", "Vô sinh", "Vô diệt",
"Niết bàn".
Sau khi nghe những lời hướng dẫn
của Trưởng lão Xá Lợi Phất (Sàrìputta), A Nậu Lâu Ðà (Anuruddha) liền
trở về tịnh cốc, tiếp tục cuộc sống cô độc, tinh tấn hành thiền,
cố gắng loại trừ ba chướng ngại ấy trong tâm. (theo Anguttara Nikàya 3:
128 - Tăng Chi A Hàm số 3: 128).
Một lần khác, A Nậu Lâu Ðà ẩn
tu trong lãnh thổ bộ lạc Cetiya, nằm về hướng Ðông vườn Trúc Lâm. Một
hôm trong khi đang hành thiền thì thiện tư duy sau đây bỗng hiện lên trong
tâm ông:
- Bậc Ðại sĩ (Mahàpurisavitakka)
là người phải có đời sống gồm đủ bảy phẩm cách cao thượng là: 1/
Thanh đạm, 2/ Tri túc, 3/ Ẩn dật, 4/ Quả cảm, 5/ Cảnh giác, 6/ Ðịnh
tâm, 7/ Trí tuệ. Như thế một Sa-môn trong Phật giáo không nên thiếu bảy
đức tính này.
Ðức Phật dùng Tha Tâm Thông biết
rõ ý nghĩ ấy trong tâm vị Tỳ-khưu em họ, và cũng là đệ tử. Ngài liền
hiện đến trước mặt A Nậu Lâu Ðà để tiếp độ và khen ngợi rằng:
- Này A Nậu Lâu Ðà! Lành thay là
điều ông đang tư duy! Ông đã ngưỡng mộ bảy đức tính mà một vĩ nhân
không thể thiếu được như thế nào, thì trong thiền pháp của Như Lai, một
Sa-môn hành giả, chẳng những không thể thiếu bảy đức tánh ấy, mà họ
còn phải có thêm đức tính thứ tám là Không phóng tâm vào trần cảnh nữa!
Tỳ-khưu nào là người đã nghe hiểu giáo pháp của bậc Toàn Giác, mà
còn có khuynh hướng để tâm duyên theo những thỏa mãn phàm tình, thì Tỳ-khưu
ấy thật không xứng đáng làm đệ tử Phật dạy.
(Nhóm chữ "không phóng tâm vào
trần cảnh" trên đây ám chỉ từ ngữ (Pàli) trong kinh Phật là
"Nippapanca", tức không có khuynh hướng mắc dính vào Ngũ trần: sắc,
thinh, hương, vị, và xúc. Hay sự giải thoát dứt khoát khỏi tham luyến
xác thân hữu hình, đa tính và phức tạp của con người. Rồi "Hữu
Dư Niết Bàn" bản chất vốn là trạng thái giải thoát khỏi khổ
thân hiện tại nầy vậy! Ngược lại, cũng trong kinh Pàli, chữ
"Papanca", không có tiếp đầu ngữ "NIP" có nghĩa là tâm mắc
dính, đắm chìm trong các dục lạc ngũ trần, và chịu vô số thống khổ,
tương đương với đặc tính đa dạng và phức tạp của những chúng sanh
hữu thể luân hồi).
Ðức Phật còn nhấn mạnh với A Nậu
Lâu Ðà rằng:
- Nếu trong khi hành thiền, phát triển
được tám đức tánh ấy mà ông có thể đạt được Tứ Thiền dễ dàng,
theo ý muốn, thì từ đó ông sẽ không còn bị Ngũ trần (sắc, thinh,
hương, vị, và xúc) ảnh hưởng tới tâm nữa. Ðời sống thể xác của
ông lúc ấy cũng sẽ an vui, tri túc với bốn món vật dụng tối thiểu là
y phục, thực phẩm, chỗ ở, và thuốc trị bệnh... Trạng thái này có thể
so sánh như một người trần tục hưởng thụ những xa xỉ phẩm vậy. Bốn
món vật dụng đạm bạc ấy hằng ngày không làm cho ông mắc dính Ngũ trần,
trái lại nhờ nó che chở thân thể mà ông có thể tinh tấn hành thiền để
đạt đến đích giải thoát cao thượng.
Lúc đức Phật từ giã vị đệ tử
nầy, Ngài cũng khuyên A Nậu Lâu Ðà nên tiếp tục ẩn tu trong vùng phía
Ðông vườn Trúc Lâm. A Nậu Lâu Ðà cung kính vâng lời, và ông đã tịnh
nhập một mùa an cư kiết hạ viên mãn ở đó. Theo kinh Tăng Chi A Hàm số
3/30 (Anguttara Nikàya 3: 30), thì A Nậu Lâu Ðà nhờ tinh tấn vượt bực, nên
sau đó chẳng bao lâu ông đắc quả A-la-hán (Arahatta). Thành thử, lần Phật
đến hỗ trợ ông ấy, cũng là lần tiếp độ sau cùng, bởi một Thánh
nhân A-la-hán là bậc đã biến thành "Vô học", "Vô nhiễm"
và "Bất đọa" vậy!
Ngay khi vừa đắc quả A-la-hán,
Thánh nhân A Nậu Lâu Ðà đã ứng khẩu ngâm mấy câu kệ, cúng dường đức
Phật rằng:
"Người đã biết tận tâm tư đệ tử
Ðức Bổn Sư, bậc Siêu Thế đến đây
Bằng linh ý, bằng khinh thân bí tự
Người khai quang tâm tánh cá nhân nầy.
Phật xuất hiện khi thiền tâm cần học
Ðem phúc ngôn cao ngất chín từng mây
Dạy cho thấy căn ngũ trần ô trọc
Diệt tư duy [1] dứt sinh tử đọa đày
Giờ đệ tử trong xứ thiền an trú
Không phân tâm ra ngoại cảnh vần xoay
Tuệ giải thoát và Tam Thông [2] tích tụ
Phật ngôn kia hành đắc chữ Không nầy.
(N. Ð. thoát dịch ra văn vần, theo các Tôn Túc Kệ
Ngôn số 901-903 trong Tăng Chi A Hàm 8:0 = Theragàthà 901-903, Anguttara Nikàya
8:30).
[1] ] Tư duy ở đây ám chỉ sự vừa lòng, và
trông đợi những gì phàm tình ưa thích, kể cả các kết quả tu thiền.
[2] Tam Thông là: 1/ Thiên Nhãn Thông (thấy hết mọi
chúng sanh, vô hình lẫn hữu hình), 2/ Túc Mạng Thông (nhớ tất cả các tiền
kiếp), 3/ Lậu Tận Thông (diệt tận phiền não của chính mình).
[ IV]
A NẬU LÂU ÐÀ VÀ
THÁNH PHÁP TỨ NIỆM XỨ (Catu Satipatthàna)
Con đường tu luyện viên dung của
A Nậu Lâu Ðà có hai sắc thái nổi bật là thần thông tuyệt đỉnh (nhờ
Thiền định) và giải thoát rốt ráo (nhờ pháp Tứ Niệm Xứ = Catu
Satipatthàna).
Trong ba chương trước, chúng tôi đã
đề cập về sự đắc các bậc Thiền định, đạt được nhiều loại thần
thông hạn hữu, nhất là Thiên Nhãn Thông, của Thánh Tăng rồi. Bây giờ
xin nói qua pháp Tứ Niệm Xứ mà ông cũng là bậc có khả năng rèn luyện
thành công siêu đẳng.
Sách chép: Thánh Tăng A Nậu Lâu
Ðà nhiều lần được hỏi nhờ đâu ông có một sự hiểu biết vô cùng
"vĩ đại" (ám chỉ Linh tuệ trực giác: Mahàbhinnatà), bao gồm cả
năm loại năng lực siêu phàm (như thấy xa vạn dặm, ngửi xa vạn dặm, nếm
xa vạn dặm, và tàng hình, biến hiện thân xác ở bất cứ nơi nào mình
muốn, để tiếp xúc với đối tượng) - Cùng phẩm cách tuyệt đỉnh thứ
sáu là đắc quả A-la-hán, giải thoát?
Trong mỗi trường hợp A Nậu Lâu
Ðà luôn luôn trả lời rằng:
- Bần Tăng nhờ thực hành thiền
định không gián đoạn, và sống với bốn Thánh Pháp Niệm Xứ
(Satipatthàna) mà đạt được một số Thần Thông và Thánh quả giải
thoát". (theo Tạp A Hàm số 47/28, 52/3, 6 và 11).
Riêng các khả năng siêu phàm, nhất
là khả năng nhớ lại đến hàng ngàn chu kỳ đại kiếp trước, thì câu
trả lời của Thánh Tăng có nội dung tương tự, được tìm thấy trong hai
đoạn kinh Tạp A Hàm số 52/12 và 52/11 (Samyutta Nikàya 52/12, 52/11).
Và để đề cao sự diệu dụng của
riêng pháp Tứ Niệm Xứ, Thánh Tăng A Nậu Lâu Ðà còn nói:
- Niệm Thân, niệm Thọ, niệm Tâm,
và niệm Pháp. Bốn thiền tác này hằng giúp cho bần Tăng kiểm soát được
những phản ứng vi tế nằm sâu trong cảm thức hướng thiện, Ariya Iddhi.
(Chữ "Ariya Iddhi", học giả Hellmuth
Hecker dịch ra Anh ngữ là: Emotive reaction, called "The power of the noble
ones").
Tiếp theo, A Nậu Lâu Ðà còn giải
rõ:
- Nhờ bốn Niệm ấy mà bần Tăng
có thể giác tịnh, thấy được tâm nào là tâm thúc đẩy tạo nghiệp, và
tâm nào là tâm không thúc đẩy tạo nghiệp, rồi bần Tăng vô tư, khách
quan, xem nó như nhau, bình đẳng, và thực hiện pháp Xả. (theo Tạp A Hàm số
52/1: Samyutta Nikàya 52/1).
(Quí vị nào muốn nghiên cứu xa hơn về
"Thiền Tâm Bình Ðẳng, và Pháp Xả" nói trên, hãy đọc cuốn
"The Heart of The Buddhist Meditation" của Nyànaponika, do London Rider và
Co. , xuất bản năm 1962, nhất là trang 181, đoạn 45).
Xa hơn nữa, Thánh Tăng A Nậu Lâu
Ðà cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thực hành Tứ Niệm Xứ như
sau:
- Bậc xuất gia mà chểnh mảng việc
tu hành pháp Tứ Niệm Xứ thì chẳng khác nào họ không muốn tiến bước
trên con đường Bát Chánh. (theo Tạp A Hàm số 52/2). Vì rằng bốn Thánh
Pháp Niệm Xứ này là ngọn đuốc soi đường, đưa hành giả đến mục tiêu
cuối cùng giải thoát, chấm dứt mọi khát vọng, và tham lam. (theo Tạp A
Hàm số 52/7: Samyutta Nikàya 52/7). Ví như dòng nước con sông Hằng, chảy
qua Trung Ấn, không thể nào không ra biển, thì một Sa-môn khi thực hành
Thánh pháp Tứ Niệm Xứ, cũng không thể nào rời xa đời sống phạm hạnh,
thanh tịnh, để trở lại kiếp sống đau khổ trần tục. (theo Tạp A Hàm
số 52/8).
Một lần nọ, A Nậu Lâu Ðà bị bệnh
nặng, ông đã làm cho tất cả đồng đạo vô cùng ngạc nhiên về pháp
thanh tịnh tâm thức của ông. Mức độ đau đớn thân xác do thân bệnh
ông gây ra, nếu là người khác thì phải lăn lộn, quằn quại, hoặc ai
gan lì lắm cũng phải run rẩy tay chân, nhăn nhó mặt mày. Thế mà A Nậu
Lâu Ðà vẫn điềm tĩnh dịu hòa. Ông thản nhiên giữ tâm trong pháp thiền,
như một nhà điêu khắc lộ thiên chăm chú tô điểm tác phẩm duy nhất của
mình, mà không biết gì đến mưa nắng gay gắt, hay gió bão xung quanh. Ðược
hỏi nhờ đâu ông có thể chịu nổi những khổ bệnh tàn khốc như thế,
A Nậu Lâu Ðà liền trả lời:
- Bần Tăng nhờ để tâm thường
trú trong Thiền Pháp Tứ Niệm Xứ." (theo Tạp A Hàm số 52/10).
Một hôm, Trưởng lão Xá Lợi Phất
(Sàrìputta) đến thăm A Nậu Lâu Ðà vào buổi tối, và hỏi vị sư đệ này
hiện tại đang thực hành thiền pháp gì, mà nét mặt ông luôn luôn tươi
tỉnh và thanh tịnh, thì được trả lời:
- Bạch đại huynh! Tiểu đệ hằng
giây hằng phút thường an trú tâm thức trong thiền Tứ Niệm Xứ! Vì niệm
Thân, niệm Thọ, niệm Tâm, và niệm Pháp là bốn sinh hoạt trong đời sống
tinh thần của một bậc giải thoát A-la-hán.
Nhờ đó Trưởng lão Xá Lợi Phất
mới biết được sự đắc quả Thánh Bất Lai của A Nậu Lâu Ðà. Trưởng
lão liền tỏ lòng hoan hỷ, và tán thán công phu của vị Thánh nhân sư đệ.
(theo Tạp A Hàm số 52/9: Samyutta Nikàya 52/9).
Một lần khác, cả hai Trưởng lão
Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên (Sàrìputta ca Mahà Moggallàno ca), nhân cùng
dịp luận đạo với A Nậu Lâu Ðà (Anuruddha), bèn hỏi ông sự khác biệt
giữa một bậc đang tu tập (Sekhà) để tiến lên Thánh quả A-la-hán, với
một bậc đã hoàn toàn giải thoát, không còn rèn luyện tâm tánh nữa
(Asekhà), thì cũng được ông trả lời như sau:
- Bạch nhị vị đại huynh! Sự khác
biệt giữa hai bậc ấy có thể nhìn thấy rất rõ ràng trong tư cách thực
hành Thiền pháp Tứ Niệm Xứ của họ! Bậc thứ nhất chỉ thuần thục một
phần trong Thánh Pháp này, nên phải còn tu luyện thêm nữa, còn bậc thứ
hai đã hoàn toàn thụ đắc, rồi đạo quả luôn luôn nằm trong tâm tư họ,
khiến họ "sống bằng Tứ Niệm Xứ" chứ không phải cố gắng thực
hành Tứ Niệm Xứ nữa (theo Tạp A Hàm các số 52/4 - 52/5: Samyutta Nikàya
52/4-5).
(Lời thêm của dịch giả: Theo kinh điển Phật
Giáo Nam truyền thì chữ "Sekhà" thường được dịch là bậc
"Hữu học", ám chỉ ba hạng Thánh đầu tiên là Tu Ðà Hườn, Tư
Ðà Hàm, và A Na Hàm. Họ còn luân hồi từ một đến bảy kiếp nữa, mới
được giải thoát, nên phải tiếp tục tu tập. Nhưng chữ "Asekhà"
ám chỉ Thánh quả A-la-hán, nghĩa là bậc "hết học" hay "vô học",
không bị luân hồi nữa. Hạng Thánh nhân A-la-hán này, khi hết tuổi thọ
là nhập Niết bàn, giải thoát, như đức Phật vậy).
Ngoài ra, A Nậu Lâu Ðà cũng tiết
lộ là ông đã đắc được "Thập Ðại Thần Công"
(Dasatathàgatabàla) như một vị Phật. Tuy nhiên, chú giải lại ghi rằng
"Thập Ðại Thần Công" của A Nậu Lâu Ðà không hoàn toàn như
"Thập Ðại Thần Công" của một bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác.
(theo Tạp A Hàm số 52/15-24: Samyutta Nikàya 52/15-24).
Lời nói đầu
| Phần 1 | Phần 3 | Phần 4