A Blossoming Lotus
ABSTRACT
Facing
the New Era with significant Opportunities and momentous Challenges,
perhaps the most important undertaking that would significantly
prepare the Vietnamese Buddhist Church to participate, in an effective
and meaningful manner, in any and all societal building efforts is to
improve the education of its monks and nuns. Given the current
situation of Vietnam and the Vietnamese Buddhist community, however,
not many of these monks and nuns have the opportunity to advance to
higher education. The building of a Buddhist university would thus
certainly satisfy that need, essentially restore the inner strength of
the Vietnamese Buddhist Church, and in effect help it play its
appropriate and historic role of bringing peace and contentment to
Vietnam and the Vietnamese.
The
five most fundamental characteristics of a Buddhist university in
contemporary Vietnam should include (a) the flexibility in the
university’s structure to maximize the student’s chance to succeed;
(b) the popularization of the university’s cognitive content to
improve the people’s intellectual standard; (c) the high quality of
the university’s curricula and degrees to enhance their acceptance by
other educational institutions in the Southeast Asia region, the Asia
continent, and the world; (d) the distinct design of curricula and
majors of the university to transform it into a valued destination for
those around the world who want to study subjects that are uniquely
Vietnam; and (e) the unhindered and transparent flow of the
university’s informational content to ensure the integrity of its role
in the development of Vietnam. All these characteristics certainly
tightly relate to each other and their applications must thus be
thorough and complete.
Several approaches and processes can be implemented to ensure those
characteristics such as the unit system (versus the current, more
rigid, annual certificate system), the articulation process, the
general and distance education, the accreditation process, the
standardization and improvement of curriculum, and the participation
in international education.
Building and maintaining a Buddhist university is a time-consuming,
costly, and difficult process that requires vision, perseverence, and
the cooperation of all those who are profoundly and genuinely
interested. It may take a long time but, in the end, it certainly is
the most meaningful and rewarding experience.
***
-
VÀI
SUY NGHĨ VỀ MỘT ĐẠI HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM
- Đỗ Hữu Tâm
Được
tham dự thảo luận về những Cơ Hội và Thách Thức của Phật Giáo trong
Thời Đại Mới, tôi xin đóng góp vài ý kiến liên hệ đến vai trò của Giáo
Hội Phật Giáo đối với nền giáo dục và đào tạo của chư Tăng Ni thông
qua cơ chế của một Đại Học Phật Giáo. Bài đóng góp này chỉ gồm những
gợi ý chuyên môn trong ngành giáo dục đại học mà chưa có tính quy mô
vì những giới hạn nhất định trong quá trình tìm tòi tài liệu cho bài
viết từ hải ngoại.
Trước
hết là một vài nhận xét tổng thể và sơ lược: Bên cạnh những phát triễn
và đóng góp tích cực cho sinh hoạt Phật sự trong những lãnh vực khác,
Giáo Hội dường như đã gặp rất nhiều khó khăn trong nỗ lực đào tạo Tăng
Ni có trình độ để kế thừa và phát huy nội lực của đạo pháp nhằm góp
phần xây dựng quê hương. Đối nội thì Giáo Hội có lẽ đã chưa nắm bắt và
vận dụng được những cơ hội để chấn chỉnh và phát triễn sở học của Tăng
Ni dù đất nước đã thống nhất và hòa bình. Đối ngoại thì Giáo Hội có vẽ
như đã thụ động trước khuynh hướng toàn cầu hóa (gồm cả Tây phương hóa
và Thiên Chúa giáo hóa) mà ảnh hưỡng tiêu cực đang và sẽ tiếp tục áp
đảo sinh hoạt xã hội và có khả năng làm biến tính cả nền văn hóa của
dân tộc ta.
Dù
nguyên nhân của các khó khăn này là gì thì tôi cũng rất kính trọng và
tán thán nỗi ưu tư về quê hương và đạo pháp của Giáo Hội và hoàn toàn
tin tưởng rằng mai đây Phật Giáo, như một bộ phận đã từng và sẽ còn
gắn bó liên tục với vận mệnh của dân tộc suốt dọc chiều dài lịch sử,
sẽ vượt qua được mọi thử thách để tích cực nắm lấy cơ hội mà xiển
dương chánh pháp và xây dựng quê hương.
Trước
tình hình khó khăn trên, và trong bối cảnh của những mâu thuẫn và xung
đột mang tính văn hóa của thời đại hiện nay, có lẽ nỗ lực quan trọng
và tiên quyết nhất của Giáo Hội Phật Giáo phải là chủ trương nâng cao
trình độ học vấn và mở rộng tầm kiến thức của chư Tăng Ni trẻ. Do vậy,
ưu tiên nhất và thực tế nhất của Giáo Hội phải là một nền giáo dục cấp
Đại Học cho Tăng Ni thông qua việc xây dựng và phát triễn một Đại Học
Phật Giáo Việt Nam.
Từ góc
độ giáo dục, hãy xét sơ qua nền Đại Học của nước ta hiện nay.
Gắn liền
với nỗi thăng trầm của đất nước, nhất là trong lịch sử cận đại, nền
Đại Học Việt Nam đã trãi qua nhiều đổi thay cơ bản. Gần đây, ngoài
những phát triễn và đóng góp tích cực, nhiều dấu hiệu cho thấy cơ chế
Đại Học của nước ta đang kinh qua một giai đoạn khó khăn mà các hiện
tượng tiêu cực vừa nhiều về số lượng vừa sâu về chất lượng đã làm cho
nền Đại Học nầy bị trì trệ và dường như mất định hướng. Điều này cho
thấy tiềm ẩn trong vai trò đào tạo nhân tài để phát triễn đất nước và
xây dựng quê hương của nền Đại Học ta là những thách đố to lớn mà các
nhà hoạch định chính sách và tổ chức Đại Học phải đương đầu.
Một số
yếu tố sau đây có thể vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của tình trạng
trên:
·
Yếu tố cơ sở hạ tầng:
Có lẽ
một trong những thách thức quan trọng hàng đầu chính là sự gia tăng số
lượng sinh viên. Đây là một nguyên nhân hiện tiền vì nó xảy ra hàng
năm và càng lúc càng trầm trọng.
Theo một
báo cáo[1]
vào năm 2003 của Tổ chức Bộ trưởng Giáo dục các nước Đông Nam Á, Việt
Nam có 191 cơ sở giáo dục cấp đại học gồm 48 đại học công lập, 16 đại
học tư thục, và 127 trường cao đẳng (gồm cả công lập lẫn tư thục). Quả
là một bước nhảy vọt về số lượng cơ sở giáo dục cấp đại học so với
khoảng 10, 15 năm về trước. Tuy nhiên, “bước nhảy vọt” này vẫn chưa
cung cấp đủ không gian đào tạïo so với sự gia tăng của số lượng sinh
viên và vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu học hỏi của họ. Từ năm 1992 đến
1995, số lượng sinh viên đã tăng gấp đôi, từ hơn 200.000 đến 414.000.
Con số này lại tăng gấp đôi một lần nữa từ năm 1995 đến 1997[2].
Năm 2002, trong số một triệu hai trăm ngàn tuyễn sinh, lượng sinh viên
đăng ký tại các đại học đã lên đến gần một triệu. Người ta ước lượng
con số này sẽ tăng 5% mỗi năm trong 5 năm sắp tới[3].
Cạnh đó là vấn đề thiếu thốn những trang bị, học cụ, thư viện, phòng
thí nghiệm và sự giới hạn của mạng thông tin điện tử (Internet) cùng
với hàng trăm cái thiếu hụt khác mà phần lớn là do ưu tiên trong ngân
sách đã không được đặt đúng chỗ.
·
Yếu tố kinh tế và nhân văn:
Khó khăn
thứ hai nổi bật tính thời đại và phản ảnh sự lúng túng của các xã hội
truyền thống trước khuynh hướng toàn cầu hóa áp đảo ào ạt đến từ
phương Tây.
Dường
như các nhà hoạch định chính sách và tổ chức Đại Học bị dằng co cùng
một lúc bởi hai lực ngược chiều. Một bên là chủ trương “đổi mới” xã
hội, đẩy mạnh kinh tế thị trường để hội nhập vào cộng đồng quốc tế
nhằm thỏa mãn xu thế toàn cầu hóa đang lên đến cao điểm mà những ảnh
hưỡng tích cực lẫn các hệ quả tiêu cực đang tác động càng lúc càng rõ
nét từ thập niên vừa qua. Bên kia là những mẫu mực cũ, đã bắt rễ trong
sinh hoạt xã hội và là khuôn mẫu tư duy hướng dẫn hành động từ mấy
mươi năm trước. Trước mâu thuẫn này, các chuyên gia giáo dục phải tìm
đáp số cho bài toán hội nhập và phát triễn để bắt kịp nhu cầu thời đại
và thế giới nhưng đồng thời cũng phải rất dè dặt vì nguy cơ bản sắc
văn hóa dân tộc có khả năng bị biến đổi sâu sắc đến độ bất khả hồi.
Chúng ta
chưa thấy nền Đại Học Việt Nam đề xuất và chung quyết được nội dung và
hướng giải quyết các vấn nạn giáo dục và xã hội hiện nay hay trã lời
rõ ràng các câu hỏi căn bản và toàn diện đã được nhiều người đặt ra:
Phát triễn quốc gia có phải chỉ là gia tăng sản xuất kinh tế? Toàn cầu
hóa có phải là rập theo khuôn mẫu phát triễn của phương Tây? Làm sao
gìn giử và phát triễn bản sắc dân tộc? Làm sao tạo sự hài hòa giữa
những tiến bộ cần thiết về kỹ thuật và thương mại với sự phát triễn
con người nhân văn và nghệ thuật để nền văn minh có thể tiến bộ một
cách cân bằng?
·
Yếu tố bản chất:
Nhưng
thách đố lớn nhất có lẽ là sự khó khăn xác định mục đích và vai trò
hiện nay của cơ chế Đại Học. Ngoài những nhiệm vụ có tính nghiên cứu
như đóng góp vào các công trình tìm hiểu lịch sử và phản ánh tình
trạng xã hội để bảo tồn và thăng hoa tinh thần dân tộc, cơ chế Đại Học
cũng được trao cho vai trò thực tế và cụ thể là đào tạo nhân tài để
xây dựng và phát triễn quê hương cùng đóng góp vào nỗ lực giải quyết
các vấn nạn xã hội... Từ mấy thập niên qua, nền Đại Học nước ta dường
như chỉ phản ứng một cách thụ động trước những thay đổi và biến động
trong xã hội. Là cơ chế trí thức hàng đầu, ít có dấu hiệu cho thấy nền
Đại Học nước ta đang đề xuất những đóng góp mang tính chỉ đạo nhằm đệ
đạt lên chính phủ để đem phúc lợi thực tế đến cho người dân. Vì nhiều
lý do, mà phần lớn có lẽ là khách quan, nền Đại Học hiện nay dường như
chưa có sự độc lập tư duy và một chiến lược dài hạn để đóng góp vào sự
nghiệp chung đưa Việt Nam vươn mình vào thế kỷ mới. Những người có
trách nhiệm và ưu tư với nền Đại Học nước ta chắc cũng đang âu lo: Đại
Học đóng vai trò chủ động nào trong tiến trình xây dựng và phát huy
văn hóa Việt Nam? Mẫu mực phát triễn Đại Học nào phù hợp nhất với hoàn
cảnh nước ta hiện nay? Đã vận dụng đầy đủ chưa nội lực của mọi thành
phần dân tộc yêu nước?
Trong
thực tế, rất nhiều người có lòng và có phương tiện đã dấn thân, đối
diện với những thách đố nói trên. Đã có rất nhiều buổi hội thảo, rất
nhiều công trình nghiên cứu và nhiều bài viết đầy tâm huyết của những
người có trách nhiệm gióng lên tiếng chuông cảnh báo để tìm một giải
pháp cho vấn nạn giáo dục hiện nay. Trước sự thúc bách phải giải quyết
nhu cầu học hỏi, do đó làm cho nhu cầu trường lớp càng lúc càng tăng,
cả nước đã tưng bừng mở trường đại học như bông hoa nở rộ trong một
cảnh vườn, đua nhau khoe màu chen sắc. Trong khung cảnh đó, trong khu
vườn muôn sắc đó, sự thiếu vắng một đóa sen vàng lại càng trở nên rõ
nét!
Giáo Dục
là một đề tài mênh mông và Đại Học nói riêng cũng đã là một chủ đề quá
lớn và phức tạp. Trong giới hạn của kiến thức và kinh nghiệm thu nhận
tại Mỹ của bản thân, do đó có lẽ không phản ánh hoàn toàn thực tế hiện
tại nơi quê nhà, người viết không mang tham vọng đề ra những phương
thức giãi quyết ba vấn nạn trên mà chỉ mạo muội đóng góp một vài ý
kiến cơ bản về vấn đề Tổ Chức và Quản Trị Đại Học và những ứng dụng
của nó vào một Đại Học Phật Giáo.
*
* *
Trước
những “vấn đề” nêu trên và do những yếu tố đặc thù của một trường Đại
Học Phật Giáo trong không gian và thời gian hiện nay, những khía cạnh
quan trọng của vấn đề Tổ Chức và Quản Trị Đại Học là: (a)
Trường cần có một cơ chế Uyển Chuyển để giúp người sinh viên
đạt được mục tiêu của mình; (b) Trường cần có tính phổ quát
để người dân dù ở đâu, và chỉ với một số vốn kiến thức nào đó, cũng có
thể được hưỡng nền giáo dục “hậu Trung học”; (c) Trường cần là
môi trường cho những công trình nghiên cứu chuyên và sâu để Khu vực,
Châu lục, và Thế giới phải chấp nhận ngành học và bằng cấp của Đại
Học Việt Nam. Nhưng Trường cũng cần cung cấp những kiến thức đại cương
để mở rộng tầm nhìn của người sinh viên ra ngoài kiến thức chuyên và
sâu của họ; (d) Trường cần là nơi phát huy và chuyên chở được
văn hóa và học thuật đặc thù của dân tộc để Việt Nam trở thành điểm
đến có giá trị và có khả năng thu hút du học sinh và nghiên cứu
sinh từ khắp thế giới; và (e) Trường cần là nơi mà thông tin
được lưu Chuyển một cách tự do, không bị giới hạn hay áp lực vì
bất kỳ một sức ép nào ngoại trừ các tiêu chuẩn tôn trọng thuần phong
mỹ tục của dân tộc.
Phân loại
thành 5 khía cạnh trên chỉ là để giản lược sự trình bày, nhưng rõ ràng
các khía cạnh này có mối liên hệ trùng trùng duyên khởi nên sự áp dụng
chúng phải triệt để, đồng bộ và toàn diện.
Chúng ta
thử xem xét các khía cạnh nầy:
A. Cơ Chế Uyển Chuyển
Cơ chế tổ
chức đại học hiện nay có tính cục bộ (trường nào trách nhiệm trường đó),
địa phương (sinh viên gặp khó khăn đổi trường từ nơi này sang nơi khác),
và cứng nhắc trong giáo trình (sinh viên khó đổi ngành học nếu không
muốn bắt đầu lại từ đầu). Điều này phản ánh “lối suy nghĩ truyền
thống của giáo dục trong đó trọng tâm của việc giảng dạy và học tập là
người thầy mà không bắt kịp tư duy hiện đại trong đó sự sáng tạo, kiểm
chứng và sử dụng kiến thức, cùng sự thay đổi thái độ, kỹ năng, và kỹ
xảo của sinh viên được nhấn mạnh”[4].
Một vài
thay đổi trong cách tổ chức và quản lý đại học sẽ làm cho cơ chế này
trở nên linh động hơn, giúp cho sinh viên không mất những chứng chỉ đã
hoàn tất hay bỏ phí thời gian học trước đây, mà phẩm chất giáo dục vẫn
không thay đổi nếu không muốn nói là còn được tăng thêm:
·
Hệ thống tín chỉ (Unit/Credit):
Đây là
một ý niệm phổ biến đã được áp dụng từ lâu trong hệ thống giáo dục tại
nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, vào những năm đầu thập
niên 1970, một số đại học tư thục trong miền Nam cũng đã bắt đầu xử
dụng hệ thống này. Một cách đơn giản, chúng ta có thể so sánh hai hệ
thống, một theo “Chứng chỉ” [hay “năm (học)”] và một theo “Tín chỉ”,
qua sự xác định đơn vị của bằng cấp: Nguyên tắc của cả hai hệ thống
này giống nhau ở chổ bằng cấp là một tập hợp của nhiều lớp nhưng trong
hệ thống “chứng chỉ”, số lượng cũng như sự chọn lựa môn học của các
lớp để hoàn tất chương trình Cử nhân rất bị giới hạn. Ngược lại, trong
hệ thống “tín chỉ” thì số lượng và sự chọn lựa môn học của các lớp lại
rất đa dạng và phong phú.
Nhưng áp
dụng hệ thống tín chỉ không phải là việc đơn giản: (a) Phải mất một
quá trình dài lâu để tạo nên được một số lượng các lớp cần thiết đủ để
người sinh viên chọn lựa và đủ để đảm bảo cho chất lượng của bằng cấp;
(b) Phải mất một thời gian dài để trường đại học xây dựng nên học
trình và thảo luận sự hợp lý và đầy đủ của nó trước khi được Bộ Giáo
Dục và Đào Tạo phê chuẩn...; (c) Phải mất một thời gian nữa để các cán
bộ quản lý, giáo sư, sinh viên, và cộng đồng hiểu và chấp nhận hệ
thống mới này; và (d) Để phát huy tối đa hiệu quả của hệ thống tín chỉ,
sự áp dụng phải đồng bộ và nhất quán.
Bên cạnh
yếu tố thời gian, bốn yêu cầu này cũng đòi hỏi một ngân sách phong phú.
Tuy nhiên một khi đã được áp dụng thì hệ thống tín chỉ sẽ mang lại ít
nhất bốn điều tích cực sau đây: (a) Sự Uyển Chuyển trong việc
thành lập học trình làm cho nó trở thành đa dạng và phong phú, cho
sinh viên có nhiều lựa chọn; (b) Sự linh động này giúp cho sinh
viên được dễ dàng trong việc Chuyển trường qua “quá trình lượng giá
tương đương các lớp học” (Articulation process) sẽ đề cập dưới đây;
(c) Nếu cần sinh viên cũng có thể theo học tại nhiều trường để rút
ngắn thời gian ra trường; và (d) Sinh viên dễ thiết kế thời
khóa biểu và chương trình học phù hợp với đời sống gia đình và việc
làm của cá nhân mình.
Gần đây,
“tín chỉ” đã được thảo luận nhiều ở một số trường tại Việt Nam như Đại
Học Bách Khoa T/P HCM và Đại Học Xã Hội Nhân Văn và đang được chuẩn bị
triễn khai thí điểm ở vài khoa dù vẫn còn một số trở ngại[5].
·
Quá trình lượng giá tương đương các
lớp học (Articulation Process):
Điều
quan trọng nhất làm cho hệ thống đại học trở nên linh động và Uyển
Chuyển chính là quá trình này. Đây là một nỗ lực có tính tập thể gồm
các giáo sư và cán bộ quản lý của các trường đại học và những chuyên
viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm lượng giá sự tương đương của các
lớp trong những bộ môn được giảng dạy tại nhiều trường khác nhau. Càng
nhiều lớp được quy định là tương đương giữa các trường (qua nội dung,
phương pháp giảng dạy, sách giáo khoa, cách thiết lập thang điểm...)
thì càng dễ dàng cho sinh viên Chuyển từ trường này qua trường khác
hay thay đổi ngành học mà không bị mất thì giờ vì vẫn có thể tiếp tục
học trình (curriculum) nhờ các lớp đã hoàn tất trước đó, tương tự như
hệ đào tạo “văn bằng 2” hiện đang được áp dụng ở một số đại học.
Quá
trình này khá phức tạp và đòi hỏi các nhân sự và cơ chế liên hệ làm
việc chặt chẽ và liên tục với nhau để xây dựng một danh sách các lớp
tương đương giữa những trường đại học trên toàn quốc. Điều căn bản để
làm cho quá trình này đơn giản và thành công chính là sự chuẫn hóa
tiến trình xây dựng nên giáo trình (curriculum) của một lớp với đầy đủ
nội dung, phương pháp giảng dạy, sách giáo khoa, thang điểm, và những
điều phụ thuộc.
Từ lâu,
bộ Giáo dục của nhiều nước tiền tiến đã xử dụng cả hai giải pháp nói
trên để nâng cao tính Uyển Chuyển của nền Đại Học của họ. [Ví dụ như
hệ thống California Articulation Number (CAN) tại bang California, Hoa
Kỳ, hiện đang được nâng cấp]
Tính
Uyển Chuyển này của tổ chức đại học cũng rất phù hợp với tinh thần khế
lý và khế cơ của Phật giáo và nhất là nhu cầu phát triễn trí dục của
chư Tăng Ni sinh. Hiẹân nay. chư Tăng Ni sinh hoàn tất chương trình
Trung Học phổ thông càng lúc càng đông và nhu cầu của một nền giáo dục
hiện đại ở trình độ đại học càng lúc càng lớn. Vậy nhưng chùa chiền
thì tản mác khắp nước mà Phật Giáo lại không có bao nhiêu cơ sở đại
học! Do vậy, Đại Học Phật Giáo trong tương lai phải phát triễn nhịp
nhàng với các đại học khác, công cũng như tư, trong cũng như ngoài
nước. Nếu không thay đổi cơ chế cứng nhắc đã lỗi thời của nền đại học
xưa cũ bằng sự Uyển Chuyển và linh động mới mẽ của cách tổ chức và
quản lý đại học hiện đại thì e rằng nhân sự tương lai của Phật giáo sẽ
cứ tiếp tục dậm chân tại chỗ vì những giới hạn về địa lý, vì nhu cầu
hoằng pháp, và vì các thiếu hụt về tài chánh.
B.
Tính Phổ Quát
Cơ chế
đại học hiện nay với các kỳ thi tuyễn sinh khó khăn đã làm cho nền
giáo dục đại học dần dà trở nên giới hạn chỉ dành cho thành phần ưu tú
(elitist) mà thôi. Tình trạngï thiếu thốn trường ốc, phương tiện giảng
dạy, và phí tổn đại học cao quả đã làm đậm nét thêm nữa sự bất công
hay bất quân bình trong việc san sẻ kiến thức đại học hiện nay như
giáo sư Dương Thiệu Tống đã suy nghĩ, “nếu nền giáo dục của ta còn
có sự phân biệt giàu nghèo, sự phân biệt thành phần xã hội, thi cử và
tuyễn chọn còn thiếu công bằng... [thì] không những đóng góp vào sự
thất bại của công cuộc đầu tư, mà điều đáng lo nhất là nó sẽ làm hao
mòn, nếu không nói là hủy hoại, một truyền thống tốt đẹp hàng nghìn
năm của dân tộc ta”[6].
Ở các nước tiền tiến, dân trí được nâng cao là nhờ tính phổ quát của
nền giáo dục đại học. Không phải ai cũng hoàn tất được học trình và có
bằng cấp đại học nhưng ít nhất ai cũng có cơ hội được học hỏi những
kiến thức đại học bất kể tuổi tác hay giới tính. Chức năng này của đại
học sẽ là một đóng góp lớn vào công cuộc nâng cao dân trí nói chung.
Vài đề
nghị dưới đây về cách tổ chức và quản lý đại học sẽ giúp đại chúng hóa
nền giáo dục đại học và mang kiến thức đại học đi sâu và đi xa hơn vào
Tăng, Ni chúng và cộng đồng dân cư.
·
Giáo dục từ xa (Distance Education):
Ngoài
phương pháp giáo dục truyền thống qua mẫu mực một lớp học với thầy/cô
đứng lớp và sinh viên ghi chép nơi ghế ngồi, trường đại học hiện đại
phải thiết kế những chương trình giáo dục sử dụng công nghệ mới của
thời đại tin học. “Mạng” thông tin điện tử (Internet) có thể được dùng
làm môi trường trao đổi giữa Thầy và Trò, để giảng dạy và học hỏi. Các
lớp “on-line” này cũng cần được tổ chức để đạt tiêu chuẩn và được công
nhận như những lớp truyền thống nhằm thỏa mãn đòi hỏi của học trình.
Tuy không phải môn học nào cũng có thể dạy trên mạng tin học, loại lớp
“on-line” này càng lúc càng thịnh hành vì vượt qua được rào cản địa lý
và giới hạn về tài chánh, cho phép nhiều sinh viên tham dự hơn là một
lớp học truyền thống. Ở những địa phương chưa có khả năng truy cập vào
mạng thì trường đại học hiện đại phải thiết kế những lớp học dùng vô
tuyến truyền hình làm môi trường giảng dạy.
Cái thời
mà “giáo dục từ xa” bị xem thường và bị coi là “phi chính quy” đã qua
rồi, Hiện nay, ở các nước tiền tiến, “giáo dục từ xa” đang được phát
huy mạnh mẽ, song song với sự phát triễn của mạng tin học hiện đại. Dù
cả hai phương pháp, internet và truyền hình, đều có một số giới hạn
nội tại nhưng cả hai đều gia tăng đáng kể tính phổ quát của kiến thức
đại học để bổ túc cho hình thức giãng dạy truyền thống hiện nay.
·
Kiến thức đại cương (General
Education):
Học
trình Cử Nhân nên được thiết kế để bao gồm cả kiến thức chuyên môn và
kiến thức đại cương, giúp trang bị cho người sinh viên những chuẩn bị
đầy đủ cho ngành học của mình đồng thời có được kiến thức rộng rãi về
những vấn đề khác.
Chính
phần “kiến thức đại cương” này sẽ làm tăng tính phổ quát của Đai Học.
Nhất là khi hệ thống “tín chỉ” được áp dụng để tăng số lượng và chất
lượng của các lớp “kiến thức đại cương” này. Nếu đủ điều kiện tài
chánh, sinh viên cũng như người dân thường có thể ghi học các lớp “đại
cương” này mà không cần ưu tư về học trình hay điều kiện để ra trường
gì cả. Học chỉ vì muốn hiểu một hay nhiều vấn đề nào đó. Các kiến thức
đại cương này sẽ nâng cao dân trí và làm giàu vốn kiến thức của cả
cộng đồng.
Ở một số
nước tiền tiến, kiến thức đại học được đại chúng hóa qua những chương
trình giáo dục cộng đồng (Community Education). Vì những giới hạn về
tài chánh và kỹ thuật, Đại Học Phật Giáo có thể gồm chung phần học
trình “chính quy” với chương trình giáo dục cộng đồng.
Tính phổ quát này
hoàn toàn phù hợp với tinh thần khoa học và bình đẳng của Phật giáo.
Giáo dục Phật Giáo tôn
trọng con người vì con người là một vị Phật tương lai. Mọi người đều
có Phật tính nên mọi người đều bình đẳng, không phân biệt sang hèn,
giai cấp, giới tính, chủng tộc[7]...
Đại chúng hóa kiến thức đại học sẽ
đóng một vai trò quan trọng trong nổ lực nâng cao dân trí và trình độ
của đại đa số chư Tăng Ni. Nhất là cho những quý vị không có cơ hội và
phương tiện đến trường. Ngoài việc phổ quát hóa kiến thức đại học, yếu
tố này cũng sẽ tiếp tục đóng góp một phần rất lớn cho công cuộc hoằng
dương chánh pháp, giúp Phật giáo thấm sâu hơn nữa vào đời sống tâm
linh và tinh thần của dân tộc.
C. Đạt Tiêu Chuẩn Để Thế Giới Công Nhận
Hiện nay
học trình và văn bằng của đại học Việt Nam chưa được chấp nhận rộng
rãi trên thế giới. Đã xảy ra trường hợp du học sinh, từng tốt nghiệp
đại học tại Việt Nam và từng được cơ quan tư nhân như International
Education Research Foundation ước lượng văn bằng tương đương với văn
bằng Cử Nhân của Mỹ (một chuyện hiếm hoi), nhưng vẫn bị đại học Mỹ
khước từ vào chương trình cao học hay tiến sĩ vì không được coi là
tương đương. Dĩ nhiên đây là điều thiệt thòi và bất công đối với sinh
viên nước ta.
Một
trong những mục tiêu chính và đáng được chú ý nhất của Đai Học Phật
Giáo là phải sớm đạt được tiêu chuẩn cao cấp để học trình và văn bằng
từ đại học Việt Nam có khả năng được những quốc gia tiền tiến trên thế
giới chấp nhận. [Ngay cả những đại học hàng đầu, có tiếng tăm và
truyền thống ở Trung Quốc gần đây cũng đã nổ lực để đạt được tiêu
chuẩn quốc tế bằng cách mời các nhà nghiên cứu tiếng tăm trên thế giới
vào hàng ngũ giáo sư, hiện đại hóa các phòng thí nghiệm, làm thêm
nhiều công trình nghiên cứu, và nâng cấp cơ sở trường ốc[8]...]
Ở một nước nhỏ như Việt Nam ta, vài đề nghị dưới đây về việc tổ chức
và quản lý đại học có thể sẽ tạo được nền móng đưa đến khả năng đạt
tiêu chuẩn cao cấp đó.
·
Quá trình công nhận (Accreditation
Process):
Có thể
nói đây là điều quan trọng nhất cho sự hiện hữu của một đại học. “Quá
trình công nhận” này làm cho văn bằng của trường đại học có giá trị,
được chính phủ và các trường đại học khác trong nước công nhận. Ngoài
ra, nếu quá trình này càng được thực hiện đúng đắn thì khả năng được
các cơ chế giáo dục trong khu vực, châu lục, và quốc tế công nhận lại
càng cao. Ở các nước tiền tiến, quá trình này cũng giúp cho trường đại
học nhận được sự hỗ trợ tài chánh từ các cơ quan chính phủ, các tổ
chức tư nhân, và cơ sở doanh nghiệp... để phát triễn thêm hoặc để thực
hiện các công trình nghiên cứu quan trọng.
Hiện
nay, Việt Nam chưa có một cơ chế để thực thi và giám sát “quá trình
công nhận” này dù chính phủ dường như đang có xu hướng chọn một số
trường để chuẫn hóa chương trình đào tạo cho đạt được tiêu chuẩn quốc
tế nhằm nâng cao chất lượng để bằng cấp được công nhân rộng rãi hơn5.
Đại Học Phật Giáo sẽ phải theo một số tiêu chuẩn gắt gao và có tính
quốc tế để tự thiết kế quá trình này với sự hợp tác của Bộ Giáo Dục và
Đào Tạo. Việc làm này là để nâng cao chất lượng của tiến trình dạy và
học, của học trình, và bằng cấp của chính Đại Học Phật Giáo, và cũng
để góp phần vào ý thức tự giác tập thể giữa các trường Đại Học hầu
thiết lập, phát huy và gìn giữ phẩm chất cao. Gần đây, Đại Học Quốc
Gia t/p HCM thành lập đoàn đi đánh giá một vài khoa của các trường
thành viên5. Dù chưa được thể chế hóa nhưng đây đã là bước đầu đúng
hướng.
“Quá
trình công nhận” cần nhiều yếu tố để đạt được tiêu chuẩn hầu bảo đảm
chất lượng của giáo dục đại học. Ví dụ như tiêu chuẩn tỷ lệ Thầy/Cô
đối với số sinh viên trong lớp; số giáo sư có văn bằng Tiến Sĩ; tỷ lệ
số giáo sư đã vào biên chế so với số giáo sư thỉnh giãng; sự sâu rộng
cùng chất lượng của “quá trình lượng giá tương tương” (articulation
process) của lớp học giữa các trường, số lượng cùng phẩm chất các công
trình nghiên cứu của lớp sinh viên tiến sĩ... Ngoài ra, đại học phải
có hệ thống thư viện được các tổ chức thư viện quốc tế công nhận về số
lượng và chất lượng tài liệu chuyên ngành để tham khảo, số lượng máy
vi tính và khả năng truy cập mạng thông tin điện tử, tỷ lệ số quản thủ
thư viện so với số sinh viên... Ngoài các thông tin “tĩnh” đó, quá
trình công nhận (accreditation process) còn chú ý đến những thông tin
“động” như chất lượng của mối liên hệ giữa ban quản lý đại học và hội
đồng giáo sư, khả năng đạt được những mục tiêu dài hạn và ngắn hạn mà
trường đại học đặt ra, tỷ lệ sinh viên ra trường, số công trình nghiên
cứu hàng năm của ban giảng huấn...
Đóng
góp mạnh mẽ vào nỗ lực đạt được các tiêu chuẩn cao cấp này là một số
yếu tố đã đề cập trước như “Hệ thống tín chỉ” (Units), “Quá trình
lượng giá tương đương” (Articulation), và “Giáo dục từ xa” (Distance
learning)... Ngoài ra sự “tự do lưu chuyển thông tin” như sẽ nói đến
dưới đây cũng đóng một vai trò quan trọng không kém.
Đối với
Đại Học Phật Giáo thì vấn đề đạt tiêu chuẩn quốc tế là điều tối quan
trọng vì vai trò đào tạo nhân tài của trường và nhất là vì chính nhiệm
vụ tiên phong của trường trong sinh họat Phật Giáo hiện đại của hôm
nay và mai hậu. Mượn tên một trong những đầu sách bán chạy nhất mới
đây (“The World Is Flat”), vì những tiến bộ trong địa hạt khoa học và
tin học, thế giới ngày nay không còn là hình cầu nữa mà lại là một mặt
phẳng chật hẹp, trên đó mọi liên hệ đều hổ tương và gắn bó chặt chẽ,
chúng ta có thể ý thức ngay là, trong bối cảnh đó, Đại Học Phật Giáo
với học trình và bằng cấp của trường cần được công nhận càng rộng rãi
càng tốt trong quốc nội, trong khu vực, châu lục, và trên thế giới.
D. Việt Nam Là Điểm Đến Của Du Học Sinh Thế Giới
Hiện
nay, văn bằng và nền giáo dục đại học của nước ngoài luôn luôn được
coi là có giá trị hơn hẳn văn bằng và nền giáo dục đại học ở Việt Nam.
Cơ chế giáo dục hiện tại dường như đã thụ động chấp nhận điều này như
một tình trạng hiển nhiên. Du học nước ngoài có lẽ là niềm mơ ước lớn
nhất của đại đa số học sinh và sinh viên Việt Nam. Theo một trong
những ước tính của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, có tới 47.000 sinh viên
Việt Nam đang du học trên toàn thế giới trong năm 20059.
Ngược lại, ngoài một số ít sinh viên ngoại quốc và Việt kiều xa xứ
theo học các chương trình tiếng Việt và văn hóa Việt ở một vài đại học
lớn tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, số sinh viên ngoại quốc ghi
tên học tại các đại học Việt Nam có thể không đến một trăm người. Du
học và trao đổi sinh viên là chuyện thường xảy ra nhưng, trong trường
hợp Việt Nam, các sự kiện nói trên đã rõ ràng cho thấy tính mất cân
đối.
Đại
Học Phật Giáo phải đóng vai trò tiên phong trong nỗ lực biến các môn
học, học trình, và bằng cấp Việt Nam trở nên hấp dẫn đối với giới trí
thức và sinh viên quốc tế. Có rất nhiều điều lợi từ nỗ lực này: Về
phương diện chính trị, sinh viên ngoại quốc sẽ là những sứ giả mang
trở về quê hương của họ những điều hay, đẹp của Việt Nam. Nếu họ trở
thành viên chức chính quyền hay là nhân vật có uy tín trong quốc gia
họ thì Việt Nam sẽ có thêm bạn hữu trên thế giới. Về phương diện văn
hóa, sự giao tiếp với sinh viên ngoại quốc sẽ mở rộng tầm nhìn và làm
cho kiến thức của sinh viên Việt Nam thêm phong phú mà không cần đi ra
nước ngoài. Sự tiếp xúc này cũng sẽ xóa đi những rào cản do định kiến
và phân biệt chủng tộc gây ra. Đó là chưa kể Việt Nam sẽ nhận được
những đóng góp “chất xám” từ các công trình khảo cứu của những du học
sinh ngoại quốc. Về phương diện kinh tế, sinh viên ngoại quốc mang
ngoại tệ vào nước, một phần có thể dùng để trang trãi cho ngân sách
giáo dục của Việt Nam.
Riêng
cho Phật Giáo, sinh viên ngoại quốc sẽ được học hỏi thêm về những nét
độc đáo của Đạo Phật và Thiền Tông Việt Nam. Hơn nữa, đây cũng là cơ
hội để thể hiện một trong những ý hướng về giáo dục của Phật Giáo là
quân bằng lại trào lưu hiện hành trên thế giới: Bao lâu chúng ta
chưa đưa giáo dục quay trở về chính con người, giúp con người tự tìm
hiểu mình và tìm hiểu những người chung quanh thì những hành động sai
trái, gây nguy hại vẫn tiếp diễn. Nói thế có nghĩa là giáo dục phải
mang tính chất nhân bản hơn để xứng dáng là giáo dục của con người, vì
con người[9].
Vài đề
nghị sau đây trong khía cạnh tổ chức và quản lý đại học có thể đóng
góp vào hướng phát triễn này:
·
Ngành học đặc thù Việt Nam:
Ngoài
các ngành học thông thường cần thiết như công nghệ tin học, quản trị
kinh doanh, sư phạm, sinh ngữ, y tế công cọng, và kỹ thuật công nghiệp,
Việt Nam vốn là một nước nhỏ và đang phát triễn nên để có thể cạnh
tranh với các nước khác trong lãnh vực thu hút sinh viên và nghiên cứu
sinh trên thế giới ta cần đưa ra những ngành học thật đặc thù Việt
Nam.
Trường
Đại Học Phật Giáo nên thành lập một ủy ban để chọn lựa và thành lập
một số ngành học nhằm thu hút sự chú ý của thành phần trí thức thế
giới. Các ngành này không nhất thiết phải phản ánh khuynh hướng chung
về phát triễn kinh tế hiện nay trên toàn cầu mà, ngược lại, có thể gây
nên một sự tò mò trí thức về đất nước, văn minh và con người Việt Nam.
Vài ví dụ là các ngành khảo cổ và nhân chũng học, sinh vật học miền
nhiệt đới, hải dương học miền nhiệt đới, lịch sử Việt Nam cận đại (có
liên hệ đến lịch sử của Trung Hoa, Nhật Bản, Pháp, và Hoa Kỳ), kinh tế
và văn hóa nông nghiệp, và Phật Giáo cùng Thiền Tông Việt Nam...
·
Sự tham dự của các giáo sư ngoại quốc
và sự liên kết với đại học trên thế giới:
Trường
Đại Học Phật Giáo nên nổ lực để quốc tế hóa thành phần giảng huấn với
những giáo sư có uy tín nhằm thu hút thêm số sinh viên ngoại quốc và
cũng nhằm quốc tế hóa các công trình nghiên cứu của giáo sư và sinh
viên của trường. Trong tiến trình tiếp xúc với các giáo sư (và sinh
viên) ngoại quốc, giáo sư và sinh viên Việt Nam cũng sẽ có cơ hội để
trao đổi và chia sẽ kiến thức và những cách dạy, cách học mới.
Cũng
trong hướng suy nghĩ này, trường Đại Học Phật Giáo cần tìm mọi cơ hội
để hợp tác với những đại học lớn trên thế giới. Trường có thể tham dự
vào chương trình trao đổi giáo sư, trao đổi sinh viên. Trường có thể
cùng chia sẽ học trình cho những văn bằng chung (như hệ đào tạo “liên
kết hai năm” gồm 2 năm trong nước và 2 năm học ở nước ngoài như dạng
du học tự túc đang được áp dụng ở một số trường bán công5). Trường
cũng có thể hợp tác với các đại học ở nước ngoài để tổ chức những lớp
học ngắn hạn ở Việt Nam hay ngoại quốc (study abroad)... Đây là những
mô hình đang được trường SOKA University, đại học Phật giáo Nhật Bản
tại Hoa Kỳ, áp dụng. Những cách tiếp cận này là phương pháp hữu hiệu
và tiết kiệm nhất để Giáo Hội tạo điều kiện cho chư Tăng Ni có được
một nền học vấn đại học với phẩm chất quốc tế trong điều kiện giới hạn
về tài chánh như hiện nay.
Tuy
nhiên, những điều này chỉ có thể thành hiện thực nếu các yếu tố đề cập
trước đây được áp dụng hoàn toàn, như quá trình công nhận
(accreditation process), quá trình lượng giá các lớp học (articulation
process), và hệ thống tín chỉ (unit system)...
E. Sự Tự Do Lưu Chuyển Của Thông Tin
Những
yếu tố trên là các điều kiện Cần nhưng có lẽ điều kiện Đủ để Phật Giáo
Việt Nam có một Đại Học đúng nghĩa là sự hiện hữu của một môi trường
mà trong đó thông tin phải được tạo thành và xữ lý một cách tự do, rồi
được lưu Chuyển, truy cập, và sữ dụng mà không bị một rào cản nào khác.
Sự kiện thông tin giáo dục và dữ kiện nghiên cứu không bị vướng mắc
hay giới hạn dưới bất kỳ hình thức nào sẽ đảm bảo được tính vô tư của
nghiên cứu, gìn giữ được phẩm chất của môn học, cổ súy sự lương thiện
trí thức, và xác định chủ quyền của nền Đại Học trong tiến trình đào
tạo nhân tài để xây dựng quê hương ở ngưỡng cửa của thế kỹ 21 này....
Môi
trường tự do này cũng hoàn toàn phù hợp với tinh thần giáo dục của
Phật Giáo. Hòa thượng Thích Minh Châu, trong bài diễn văn khai mạc Hội
Thảo Giáo Dục Phật Giáo cách đây 6 năm đã nói, “Ý nghĩa nổi bật của
giáo dục là sự truyền thọ, huấn luyện, đào tạo. Nhưng sẽ rất thiếu sót
nếu chúng ta không nhấn mạnh đến sự kích thích làm phát triễn khả năng
tư duy, sự tinh tấn, tinh thần tự do, tính sáng tạo và thiện căn vốn
có sẳn ở người được giáo dục... Giáo dục Phật Giáo khích lệ sự tự do,
tinh thần sáng tạo, và phá chấp của người học...”7 Dù
đang ở trong hoàn cảnh thiếu thốn và điều kiện giới hạn hiện nay của
quê hương, Đại Học Phật Giáo Việt Nam vẫn phải luôn nhắm tới và tích
cực vận dụng những điều kiện có thể để đạt được yếu tố này. Đây sẽ là
khuynh hướng chung nếu Đại Học Phật Giáo nói riêng và nền đại học nước
nhà nói chung muốn thực hiện đúng đắn chức năng của mình hầu đóng góp
một cách hữu hiệu vào sự phát triễn của quốc gia.
*
* *
Như
đã trình bày trên đây, điều ưu tiên để chấn hưng Giáo Hội nhằm đáp ứng
với những cơ hội, thách thức và đòi hỏi của thời đại mới phải là nỗ
lực đào tạo một thế hệ Tăng Ni được trang bị bằng hành trang kiến thức
hợp lý gồm cả Nội điển lẫn Ngoại điển. Cung cấp những kiến thức hiện
đại ở trình độ đại học thông qua việc thành lập trường Đại Học Phật
Giáo rõ ràng là một quyết định có tầm nhìn chiến lược đúng đắn và khả
thi nhất mà Giáo Hội có thể đầu tư vào để tiếp tục nhiệm vụ truyền
thống là phục vụ Đạo Pháp và Dân Tộc của mình.
Đã
đến lúc chúng ta cần nhận thức được tiềm năng tham dự và đóng góp của
nền giáo dục Phật Giáo vào phúc lợi của dân tộc và của nhân loại.
Đó là một nền giáo dục không đặt nặng, không đòi hỏi niềm tin, sự tuân
thủ giáo điều tôn giáo. Đó là một nền giáo dục chú trọng đến sự phát
triễn của đời sống tâm linh, đạo đức và đòi hỏi sự thực hành theo tiêu
chuẩn của giá trị đạo đức giải thoát7.
Những
khó khăn và thách thức trước mặt sẽ được tuần tự giải quyết nếu Giáo
Hội nhận thức được tầm quan trọng, cương quyết đi tới, và có một
chương trình hành động cụ thể và hợp lý. Chắc chắn tất cả người Việt
trong và ngoài nước cũng như những thân hữu ngoại quốc, nhất là Phật
tử Việt Nam, sẽ kề vai sát cánh để tiếp tay với Giáo Hội cho đến ngày
thành công.
Bài
viết này đến từ tâm tư của một người Việt ở hải ngoại yêu quê hương,
yêu đạo Phật, và yêu con người Việt Nam. Xin trân trọng cám ơn ban tổ
chức buổi hội thảo đã tạo cơ hội cho tôi được đóng góp vài ý kiến sơ
thảo của mình.
Hoa Kỳ, tháng Sáu năm 2006
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]
Văn hóa giáo dục các nước Đông Nam Á. (2003). (Cultural education
of Southeast Asian countries) Trung Tâm Đào Tạo Khu Vực (Regional
training center. Southeast Asian Ministers of Education – SEAMEO)
[2]
Ashwill, M. (2001). Looking to the West. International Educator,
v.10, n.2, Spring 2001
[3]
Borton, J. (2002). Vietnam’s long road to learning. Asia Times
Online (2.26.2002)
[4]
Dương Thiệu Tống (2000). Suy nghĩ về văn hóa giáo dục Việt Nam.
Nhà xuất bản Trẻ, 2000
[5]
Trương Thị Kim-Chuyên (ĐHQG t/p HCM, ĐH Xã Hội Nhân Văn). Thư
riêng, 2006
[6]
Dương Thiệu Tống (2004). Suy nghĩ về giáo dục truyền thống và hiện
đại. Nhà xuất bản Trẻ, 2004
[7]
Hòa thượng Thích Minh Châu (2000). Diễn văn khai mạc. Hội Thảo
Giáo Dục Phật Giáo Trong Thời Hiện Đại, 2000
[8]
The long road ahead for China’s universities. The Chronicle of
Higher Education, v.52, i.37, p.37a. May 19, 2006
[9]
Mái nhà chung của SVVN toàn cầu. Báo Tuổi Trẻ, Tết Ất Dậu, 2005
http://www.buddhismtoday.com/viet/pgvn/hoithao_nghive_daihocPG_VN.htm