- Những đoá mai vàng đẹp
mãi ngàn năm
- TT. Thích Giác Toàn
1) Đối với các Thiền Sư thời Lý-Trần, sự ứng dụng
tâm thức tu hành với những giáo lý Đức Phật truyền dạy là một. Trong
Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới, Đức Phật khai thị về không gian:
"Mười phương thế giới đồng nhất thể." Trong Kinh Kim Cang, Đức
Phật mở bày ý niệm về thời gian: "Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện
tại tâm bất khả đắc, vi lai tâm bất khả đắc."
Câu chuyện vua Lý Thái Tông, khoảng niên hiệu Thông Thụy
(1034-1038), một sáng mùa Xuân tìm vào núi viếng thăm Thiền Sư Thiền Lão.
Với 4 câu thơ, đáp lời hai câu hỏi của nhà vua, Thiền Sư đã lưu lại
cho chúng ta những câu thơ tuyệt bích trong thi ca Thiền học về không gian
và thời gian.
Lúc lên núi, gặp Thiền Sư vua hỏi: "Hòa Thượng đến
tu núi này được bao lâu rồi?"
Thiền Sư đáp:
Sống ngày nay biết ngày nay
Còn Xuân Thu trước ai hay làm gì!
(Đản tri kim nhật nguyệt
Thùy thức cựu Xuân Thu)
Vua lại hỏi tiếp: "Như vậy hằng ngày Hòa Thượng làm
việc gì?"
Thiền Sư đáp:
Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác
Trăng trong mây trắng hiện toàn chân.
(Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân)
Thiền Sư không làm thơ nhiều, nhưng tâm hồn Thiền Sư hiền
và đẹp nên ngôn ngữ Thiền Sư thốt ra cũng nhẹ và đẹp lãng đãng như
áng mây trời. Vì thế, không gian và thời gian đối với Thiền Sư lại càng
như không có gì để phải bận tâm. Bởi quá khứ là cái đã đi qua; những
điều hiện tại trong khoảnh khắc rồi cũng qua mau, trở thành quá khứ;
còn việc tương lai là điều chưa đến, mà nếu có đến thì nó lại cũng
đi qua và sẽ trở thành quá khứ. Dòng thời gian luôn qua nhanh như một dòng
nước trôi xuôi. Nắm bắt cái đã qua vừa làm mất công, vừa tự mình
làm mệt, làm khổ cho chính mình. Cho nên, chúng ta thấy các Thiền Sư chẳng
những sống với thực tại mà còn tỉnh thức trước thực tại. Các Pháp
vốn "như thực như thị," hãy để nó diễn biến đúng theo quy luật
nhân quả của chính nó.
Chúng ta tin chắc lời đáp của Thiền Sư đã tạo nên sự
ngạc nhiên lý thú cho nhà vua và kết quả đã đưa nhà vua về với thực
tại: - Như vậy, hằng ngày Hòa Thượng làm việc gì? Thiền Sư không trả
lời là hằng ngày mình làm việc gì, nhưng nhà vua vẫn không buồn mà lại
càng thích ý hơn khi được Thiền Sư đưa nhà vua thể nhập vào sự hài
hòa toàn bích của tâm và cảnh, giữa con người và cảnh sắc thiên nhiên
không hai không khác:
"Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác
Trăng trong mây trắng hiện toàn chân."
Chính cái bên ngoài là pháp trần, là hóa thân làm đẹp cái
bên trong; còn cái bên trong là tâm thức, là pháp thân chủ để làm rạng
rỡ, rực sáng cái bên ngoài. Người thân chứng là người không còn thấy
có khoảng cách giữa tâm và vật, thức và trần. Cảnh chỉ là một –
huyền diệu lung linh.
2) Mãn Giác Thiền Sư (1052-1096) nếu so với các Thiền Sư
đời Lý thì tuổi thọ nơi thân xác tứ đại của Thiền Sư có phần ngắn
ngủi hơn. Nhưng pháp thân chân tính của Ngài hiển hóa trong thi ca thì sống
mãi muôn đời. Và một điều kỳ diệu là mùa Xuân nào đọc lại bài thơ
của Thiền Sư vẫn nghe như mới, như trào dâng một cảm xúc vô biên:
"Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai."
"Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai."
(HT.Thích Thanh Từ dịch)
Về mặt cấu tạo vật chất, thân con người là tứ đại
(đất, nước, lửa, gió) cấu thành, cảnh vật hoa cỏ thiên nhiên cũng là
tứ đại thành. Nhưng con người hơn vạn vật ở chỗ là con người có
hình thức sống, có tâm hồn, cho nên con người đương nhiên là chủ thể
của vạn vật. Điều vi diệu ở đây là chủ thể và khách thể, tức con
người và vạn vật lại hội nhập hòa điệu trong tính đồng nguyên nhất
thể. Con người nhìn tấm gương phản chiếu của dòng thời gian đến –
đi, của hoa cỏ nở- rụng mà có thể cảm nhận được dòng đời
"trước mắt việc đi mãi," để tự nhìn lại chính mình
"trên đầu già đến rồi" quả vô cùng tuyệt diệu. Thấy được
tính vô thường nơi thời gian, vô thường của cảnh vật hoa cỏ thiên
nhiên rồi cảm nhận ra được sự vô thường nơi chính xác thân mình đâu
phải là điều dễ làm. Trong cuộc sống trùng trùng điệp điệp này ai cũng
trải qua, ai cũng đến đi, ai cũng trẻ già, ai cũng sống chết; nhưng giác
ngộ được thực tướng của chính mình trong mỗi lúc, không phải ai cũng
có thể cảm nhận ra.
Khi đốidiện nhân chứng trước sanh tử vô thường, chẳng
những không sợ hãi mà Thiền Sư còn đưa con người vào cõi an trú vĩnh hằng,
Niết Bàn bất diệt: "Chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết, đêm qua sân trước
một cành mai." Giữa cõi đất trời siêu tuyệt, cành mai của Thiền Sư
Mãn Giác chính là sự hội tụ của tính nhân văn, là nét đẹp không cùng
tận của con người.
Đời Trần, Thiền Sư Huyền Quang – một thi sĩ tài hoa,
là một trong số ít các vị tác giả có nhiều tác phẩm, hiện nay còn lưu
lại cũng khá nhiều. Bài thơ "Hoa Cúc" là một trong những bài thơ
nổi tiếng của Thiền Sư. Từ ngày Thiền Sư tịch đến nay gần 700 năm,
hễ nói đến Thiền Sư thì người ta nhớ đến bài thơ "Hoa Cúc."
Bài thơ có sáu đoạn tứ tuyệt, mỗi người có mỗi tâm trạng hòa nhịp
theo ý thức xúc cảm sâu lắng của Thiền Sư.
Giáo lý vô thường, khổ não, vô ngã trước cuộc đời và
sự thâm cảm giữa ý thức uyên áo của con người với thiên nhiên được
Thiền Sư lột tả một cách tuyệt mỹ nơi đoạn 3:
"Vương thân vương thế dĩ đô vương,
Tọa cửu tiêu nhiên nhất thập lương
Tuế vãng sơn trung vô lịch nhật,
Cúc hoa khai xứ, tức trùng dương."
"Quên mình, quên hết cuộc tang thương
Ngồi lặng đìu hiu mát cả giường
Năm cuối trong rừng không có lịch
Thấy hoa Cúc nở biết trùng dương."
(bản dịch của Phan Võ – lược khảo LSVHVN)
Bốn loài: Mai, Lan, Cúc, Trúc là biểu tượng của bốn mùa:
Xuân, Hạ, Thu, Đông. Thiền Sư ngồi thiền định trong rừng, cảnh cũng không
người cũng không. Cây cỏ, hoa cảnh, thời gian, không gian như đứng ngừng
im lặng, như "giao hội" cùng trời đất. Chỉ cần thấy "hoa Cúc
nở" là biết "tiết trùng dương đã đến, tựa như Thiền Sư Viên
Chiếu đời Lý cũng đã từng thổ lộ:
"Trùng dương Cúc nở dưới rào
Trên cành Oanh hót thanh tao dịu dàng."
Nhưng nét đẹp siêu tuyệt nơi Huyền Quang không dừng lại
ở đây, nó còn vương lên, vượt khỏi ta – người, tâm- cảnh, có –
không v.v… Nói theo tư tưởng Thiền của các Tổ sư là dứt bỏ "Nhị
kiến" không còn thấy có hai, dù không gian, thời gian nào, dù người
hay vật, sắc hay không (đoạn 5):
"Hoa tại trung đình, nhân tại lâu
Phần hương độc tọa tự vong ưu.
Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh
Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu"
"Người ở trên lầu hoa dưới sân
Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông
Hồn nhiên người với hoa vô biệt
Một đóa hoa vàng chợt nở tung"
(bản dịch của Nguyễn Lang)
Khi nào con người trở về với chính mình thì khi đó cái
đẹp "tính nhân bản" hội tụ. Và cũng chính nơi mình, "tính
nhân bản" tỏa sáng muôn đời.
Tóm lại, như chúng ta đã biết, cánh hoa vàng (hoàng hoa) của
Thiền Sư Thiền Lão, cành Mai vàng của Thiền Sư Mãn Giác đầu, giữa đời
Lý và đóa Cúc vàng của Thiền Sư Huyền Quang gần cuối đời Trần… cả
3 đóa hoa vàng cách nhau trên dưới 300 năm. Vậy mà khi đọc lại, ta tưởng
chừng như 3 con người, 3 vị Thiền Sư Thiền Lão-Mãn Giác-Huyền Quang và
3 đóa hoa vàng chỉ là một – như mới đâu đây, mới hôm nào… rồi chợt
giật mình. Ồ! Đây rồi – đóa hoa vàng của chính lòng ta "tâm thức
sống của chính mình," của mỗi người chúng ta. Ôi! Những đóa hoa
vàng tuyệt bích thiên thu.
http://www.buddhismtoday.com/viet/xuan/007-maivang.htm