- SỬ TÍCH TU ÐÀ
CẤP CÔ ÐỘC
Anh ngữ: HELLMUTH HECKER
Dịch giả: Nguyễn Ðiều
Phần 1
[I] TU ÐÀ CẤP CÔ ÐỘC GẶP PHẬT
VÀ TRỞ THÀNH MÔN ÐỒ
Vào mùa hạ thứ nhất, sau khi Thái
tử Sĩ Ðạt Ta Cồ Ðàm (Siddhatta Gotama) chứng quả Phật Toàn Giác, và thu
nhận đệ tử tại Vương Xá thành (Ràjagaha), thủ đô xứ Ma Kiệt Ðà
(Magadha), thì Tăng đoàn lúc ấy chỉ gồm một ít người. Họ sau khi được
nghe Phật giảng pháp Tứ Diệu Ðế (Catu Àriyasaccàni), đều đắc quả A
La Hán (Arahatta) giải thoát.
Chư Thánh Tăng A La Hán đầu tiên
ấy đã dứt tận phiền não, nên sống một cuộc đời thanh tịnh, thoát
ly gia đình, rày đây mai đó, lấy quãng trống hay rừng xanh làm nhà, lấy
đồi núi hay đồng nội làm nơi hành đạo...
Khi ấy có một đại phú thương, vốn
là anh rể của Tu Ðà Cấp Cô Ðộc, đã quy y đức Phật, và chứng kiến
đời sống giải thoát, cao thượng của chư vị Thánh Tăng, bèn đề nghị
họ yêu cầu đức Phật cho phép ông xây cúng những tịnh xá cố định.
Khi đức Phật chuẩn lời, ông phú
thương liền xây cất hơn sáu chục tịnh cốc, để dâng đến đức Phật
và chư Thánh Tăng. Ðược hỏi tại sao ông tạo số tịnh cốc quá nhiều,
so với số Thánh Tăng có thể cư ngụ thì ông phú thương vui vẻ trả lời
rằng:
- Tôi làm như vậy vì muốn được
nhiều phước báu!
Và với những tịnh cốc nguyên khởi
ấy, một tu viện Phật giáo đầu tiên đã được thành hình, để khai sáng
giai đoạn truyền bá chánh pháp, đón tiếp những ai hữu duyên, muốn xuất
gia tu học, và rèn luyện phẩm hạnh giải thoát. (Theo Cullavagga VI. 1: Tiểu
phẩm số VI. 1).
Một hôm Tu Ðà Cấp Cô Ðộc, người
phú thương bá hộ Mạnh Thường Quân của thành Xá Vệ (Sàvatthì), trên
chuyến thương hành xuyên qua nước lân cận Ma Kiệt Ðà (Magadha), đến thủ
đô Vương Xá thành (Ràjagaha). Như thường lệ, ông trước tiên ghé thăm
người anh rể vừa cũng là một bạn thân của mình.
Khi Tu Ðà Cấp Cô Ðộc đi vào nhà
người anh rể, thì ông lấy làm ngạc nhiên, vì không ai chú ý đến ông cả.
Thói quen mỗi lần ông đến là người anh rể cùng toàn thể gia nhân đã
vui mừng ra đón tiếp ông một cách thân mật tận ngoài cửa. Nhưng hôm
nay khác hẳn, tất cả đều tỏ ra quá bận rộn đến nỗi hời hợt trước
sự có mặt của ông, dường như họ đang để hết tâm ý sửa soạn
nghinh đón một nhân vật vô cùng quan trọng!
Tu Ðà Cấp Cô Ðộc liền hỏi người
anh rể:
- Phải chăng trong nhà đang có đám
cưới, hoặc gia đình đang chuẩn bị một cuộc đại tế lễ, hay tin quốc
vương ngoạn cảnh sắp viếng thăm?
Thì câu trả lời vỏn vẹn chỉ
có:
- Ngày mai đức Phật và chư Thánh
Tăng đến thọ trai và ban phước lành.
Tu Ðà Cấp Cô Ðộc chợt chú ý hỏi
tiếp:
- Hiền huynh nói có một vị Phật
sẽ đến?
- Ðúng vậy thưa thân đệ! Ngày
mai, đức Phật, đấng Toàn Giác sẽ đến.
Tu Ðà Cấp Cô Ðộc lộ hẳn sự
kích thích. Ông nhắc lại câu hỏi ấy đến lần thứ hai, rồi lần thứ
ba:
- Hiền huynh xác nhận là có một vị
Phật sống trong vùng và ngày mai Ngài sẽ đến đây?
- Vâng! Thưa thân đệ! Ðấng Toàn
Giác ấy sẽ đến ban phước lành trong ngôi nhà này! Hiện giờ Ngài đang
an trú tại vườn Sìtavana, cạnh Trúc Lâm tịnh xá, phía Tây Vương Xá
thành.
Trước câu trả lời đầy đức
tin đó, Tu Ðà Cấp Cô Ðộc vừa kinh cảm vừa ngạc nhiên. Ông rùng mình
hít một hơi dài rồi thở ra từ từ, đồng thời lẩm bẩm:
"Ðức Phật là một danh từ
mình đã hiếm được nghe trên đời rồi. Bây giờ lại có thể nhìn thấy
một vị Phật bằng xương bằng thịt".
Người anh rể của Tu Ðà Cấp Cô
Ðộc nghe thế liền xen vào:
- Bữa nay vì trời tối, nên thân
đệ không thể gặp đức Phật được, nhưng ngày mai chuyện ấy sẽ chắc
chắn.
Ðêm đó, Tu Ðà Cấp Cô Ðộc ở lại
tại nhà người anh rể, nhưng sự kinh cảm và lòng nôn nóng muốn gặp Phật
đã làm cho ông không sao ngủ ngon được. Ông đã thức giấc đến ba lần,
nghĩ rằng: "Chắc trời sáng rồi" và nhìn ra ngoài thấy màng đêm
vẫn dày đặc. Lần thức giấc sau cùng nghe tiếng gà gáy đầu, nhằm lúc
trời gần rạng đông, nên ông mạnh dạn rời nhà người anh rể, định
ra khỏi Vương Xá thành, rồi hướng về Trúc Lâm tịnh xá.
Tuy nhiên, trong bóng đêm tàn tịch
mịch, sự sợ sệt và lòng nghi ngại lại phát sinh trong ông. Vì Tu Ðà Cấp
Cô Ðộc là một đại phú thương nổi tiếng, của cải rất nhiều, nếu
ông phiêu lưu như thế, nhỡ gặp phải phường bất lương sẽ vô cùng
nguy hiểm! Do đó, bản năng tự vệ lại khiến ông chùn chân quay lại.
Chợt Tu Ðà Cấp Cô Ðộc bình tĩnh,
ông nghe tận trong tâm tư dường như có một âm thanh kỳ diệu thúc giục:
"Hãy tiến bước! Ðến gặp một vị Phật Tổ không bao giờ nguy hiểm!".
Thế là ông dũng mãnh tiến tới.
Ði một lúc khá lâu, ông đến bìa
cụm rừng Sitavana, gần Trúc Lâm tịnh xá. Và trong màng sương rạng đông
đùng đục mờ mờ, Tu Ðà Cấp Cô Ðộc chợt thấy một bóng người thấp
thoáng, trầm mặc bước đi.
Tu Ðà Cấp Cô Ðộc liền dừng
chân quan sát, thì bóng người thanh tịnh ấy lại quay về phía ông, và một
giọng nói thanh tao, hiền hòa, khó diễn tả, phát ra:
- Hãy đến đây! Này thiện bá hộ
của dòng họ Tu Ðà!
Tu Ðà Cấp Cô Ðộc giật mình đánh
thót, kinh ngạc vô cùng khi nghe mấy lời "đón tiếp" nghiêm trang
ấy. Vì trong vùng Vương Xá thành, ngoại trừ gia đình người anh rể, không
một ai biết được tên họ của ông. Người ta chỉ biết ông qua cái danh
hiệu Mạnh Thường Quân "Cấp Cô Ðộc", nhưng cũng ít người biết
được mặt thật của ông, bởi trong việc cứu giúp hàng ngàn, hàng vạn
dân nghèo, gia nhân ông đã thay thế ông làm hầu hết. Càng ngạc nhiên hơn
nữa, là ông chưa bao giờ làm quen với "bóng người" đứng trước
mặt kia. Nhất là ông đã đến bất thình lình không báo trước!
Một phút ngạc nhiên và yên lặng
trôi qua... Lời "đón tiếp" của "bóng người" dường như
có một linh lực khiến cho hai chân ông tự động bước tới. Khi đến gần
thì ông nhận ra một đạo nhân phi phàm thoát tục. Tu Ðà Cấp Cô Ðộc tự
nhiên không nghi ngờ gì nữa. Ông tin chắc đây là đức Phật, liền sụp
lạy và vì cảm động, nói đứt quãng, không thông lời, rằng:
- Lạy Phật! Ngài có được bình
an không?
- Như Lai luôn luôn bình an! Chúc
lành ông vừa đến thăm.
Nghe câu trả lời thanh tịnh và từ
ái ấy Tu Ðà Cấp Cô Ðộc cảm thấy vô cùng thỏa thích, và đến gần
Phật hơn nữa để nghe những lời cao thượng tiếp theo:
- Này Tu Ðà Cấp Cô Ðộc! Một bậc
đã chứng quả Toàn Giác, Giải Thoát thì không còn đau khổ, dù cho ấy
là những đau khổ vi tế.
Ðoạn đức Phật dẫn Tu Ðà Cấp
Cô Ðộc nối theo bước chân kinh hành buổi sáng của Ngài. Vừa đi Ngài vừa
giảng giải những Pháp bảo căn bản nhiệm mầu, nhất là các pháp có
liên quan đến sự bố thí, trì giới, sinh diệt, vô thường, biến hoại,
xuất gia, rồi bảo rằng ấy là "Nghiệp thiện và ý thức tiến
hóa" có thể đưa con người tới các cõi cao hơn, được giải thoát
khỏi những khổ đau phiền não do say đắm trong các nhục dục ở đời.
Khi đức Toàn Giác nhận thấy Tu
Ðà Cấp Cô Ðộc thiện căn đã bộc lộ, tâm tánh đã khai mở, kiến chấp
đã vỡ tan, ý thức đã an tịnh, sẵn sàng để hấp thụ chánh pháp, Ngài
liền giảng giải cho ông bốn chân lý vô song của Phật giáo là Tứ Diệu
Ðế (Catu Ariyasaccàni) gồm:
1- Khổ Ðế: Khổ đau là một thật tế.
2- Tập Ðế: Ái dục, nguyên nhân của khổ đau
là một thật tế.
3- Diệt Ðế: Niết bàn, trạng thái dập tắt mọi
ái dục, hết khổ đau là một thật tế.
4- Ðạo Ðế: Bát Chánh Ðạo, con đường có
tám chi dẫn đến chỗ dập tắt mọi ái dục là một thật pháp.
Thấu đáo được bốn chân lý vô
song đó, Tuệ nhãn (hay Pháp nhãn: Dhammacakkhu) nhìn thấy mọi sự vật liền
phát sinh trong tâm Tu Ðà Cấp Cô Ðộc, khiến cho ông mặc nhiên nhất niệm
rằng: "Cái gì hễ có sinh thì phải có diệt". Tu Ðà Cấp Cô Ðộc
bây giờ là một người hiểu đúng sự thật, dẹp bỏ được hoài nghi, tự
tin chắc chắn vào đạo giải thoát, không còn trông đợi vào một tha ân
nào khác. Và khi Phật giảng giải chánh pháp xong, ông đã đắc quả đầu
Nhập Lưu Tu Ðà Hườn (Sotàpatti), một phẩm Thánh chỉ có tiến lên đích
giải thoát chứ không bao giờ còn sa đọa vào ác đạo nữa.
Sau đó Tu Ðà Cấp Cô Ðộc thành
tâm thỉnh mời đức Thế Tôn đến dự trai Tăng tại nhà người anh rể
ngày mai và được đức Thế Tôn nhận lời. Sau buổi trai Tăng, Tu Ðà Cấp
Cô Ðộc liền xin phép đấng Toàn Giác chấp thuận cho ông xây cất một
ngôi chùa dâng đến chư Tăng để cư ngụ trong thành phố Xá Vệ của
mình.
Ðức Phật thay vì chấp thuận một
cách xác định, Ngài lại bổ túc sự đồng ý của Ngài bằng cách lưu ý
người yêu cầu rằng:
- Này Tu Ðà Cấp Cô Ðộc! Các bậc
Giác Ngộ chỉ thích những nơi thanh tịnh.
- Bạch đức Thế Tôn! Con đã hiểu!
Con rất hiểu tôn ý của đức Phật! Con sẽ chọn một nơi gần thành Xá
Vệ nhưng không ồn ào.
Vừa nói Tu Ðà Cấp Cô Ðộc tỏ vẻ
vô cùng hoan hỷ, vì ông biết rằng đức Thế Tôn đã gián tiếp chấp thuận
lời yêu cầu của ông (Theo Samyutta Nikàya 10, 8: Tạp A Hàm 10, 8 và CV VI. 4:
Tiểu phẩm VI. 4).
Trên đường trở về thành Xá Vệ
(Sàvatthi) đi đến đâu Tu Ðà Cấp Cô Ðộc cũng loan tin cho dân chúng biết
ý định lập chùa của ông, và ông còn khuyến khích họ chuẩn bị thật
chu đáo, để nghinh đón đức Phật một cách long trọng suốt quãng đường
dài từ Vương Xá thành (Ràjagaha) đến thủ đô Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu).
Khi về đến đất nhà, ông lập tức
đi tìm địa điểm để xây chùa. Nhất là chỗ nào không xa mà cũng không
gần thành phố lắm. Ðịa thế phải đúng tiêu chuẩn ban ngày dẫu người
đến đông cũng không trở thành hỗn độn và ban đêm tuyệt đối không
có tiếng động. Ngôi chùa trong tương lai ấy cũng phải là nơi Phật tử
bốn phương có thể lui tới dễ dàng, đồng thời nó phải thích hợp cho
những Cao Tăng quen sống trong cảnh ẩn dật, thanh tịnh.
Sau cùng, Tu Ðà Cấp Cô Ðộc đã
tìm ra trong dải đồi bao quanh thành phố Xá Vệ một quãng đất rừng
thưa rất thích hợp cho mục đích lập chùa. Khoảng đất rừng này hiện
thuộc về Thái tử Kỳ Ðà (Jeta), con vua Ba Tư Nặc (Pasenadi).
Tu Ðà Cấp Cô Ðộc lập tức đến
gặp vị Hoàng tử ấy, để yêu cầu Hoàng tử nhường lại khoảng đất
tốt kia. Nhưng Hoàng tử Kỳ Ðà trả lời rằng:
- Dải đất bằng rừng thưa này, bản
Vương tử không có ý định bán cho ai cả.
Rồi Hoàng tử thấy nét mặt Tu
Ðà Cấp Cô Ðộc có vẻ khẩn khoản, liền nói tiếp, nửa đùa nửa thật,
nêu một cái giá cao gấp trăm lần thực tế:
- Cho dù có ai chịu trả đến mười
tám triệu đồng tiền vàng, bản Vương tử cũng chưa chắc đã thuận.
Tu Ðà Cấp Cô Ðộc nghe thế liền
chụp lấy cơ hội:
- Nếu Hoàng tử chịu nhượng đất
cho hạ thần thì giá nào hạ thần cũng mua cả có thể trả bằng vàng lập
tức, không để trễ nải.
Hoàng tử Kỳ Ðà tưởng mình nói
dọa bằng một giá cực đắc như thế để Tu Ðà Cấp Cô Ðộc tự ý
rút lui, nào ngờ ông tuyên bố chấp thuận mua vô điều kiện, khiến Hoàng
tử đâm ra lúng túng.
Sự lúng túng đó đã làm cho Hoàng
tử Kỳ Ðà không biết giải quyết ra sao. Một mặt Hoàng tử không muốn
bán đất, mặc khác Hoàng tử cũng không muốn mất thể diện đã nêu giá
cao mà lại nuốt lời.
Sau cùng cả Hoàng tử Kỳ Ðà lẫn
bá hộ Cấp Cô Ðộc phải đến nhờ một người làm trọng tài. Người
trọng tài này, tuy sợ oai quyền của Hoàng tử Kỳ Ðà, nhưng trong tâm vốn
kính nể Tu Ðà Cấp Cô Ðộc không kém, nên nghĩ ra một cách, đề nghị rằng:
- Ðất của Hoàng tử là đất rất
quí. Ai muốn mua đất ấy thì phải đem tiền vàng lót kín diện tích khoảng
đất mà mình muốn mua để định giá trả cho Hoàng tử.
Do đó một giao kèo bán đất đã
được thiết lập và cuộc thương thuyết kết thúc.
Sau đó, Tu Ðà Cấp Cô Ðộc ra lệnh
cho gia nhân dùng mấy chục cỗ xe chở đầy tiền vàng đến lót kín khoảng
đất mà ông đã chọn. Tuy nhiên tổng số vàng của mấy chục cỗ xe chỉ
đủ cho diện tích đất chùa mà thôi, còn các lối vào chưa lót, nên ông
phải phái tùy tùng trở về, mở kho lấy vàng thêm.
Trong khi Tu Ðà Cấp Cô Ðộc chưa kịp
làm vậy, thì Thái tử Kỳ Ðà, vì cảm kích hạnh bố thí của bá hộ Cấp
Cô Ðộc nên phát tâm hiến dâng phần đất làm lối đi xung quanh chùa, nơi
ấy Hoàng tử sẽ ra lệnh xây cất những ngọ môn, ngoại viên và vòng
thành rất trang nghiêm hùng vĩ. Vòng thành và các ngọ môn đó sẽ bảo vệ
ngôi chùa, ngăn cản tiếng động từ các trục giao thông có xe cộ di chuyển,
đồng thời cũng ấn định ranh giới giữa thánh địa tôn nghiêm và làng
xóm bên ngoài. Còn ngoại viên là một lối rộng làm vòng đai xung quanh chùa,
cũng được Hoàng tử cho trồng nhiều thứ hoa trang trí, đủ màu sắc, và
lót gạch men rất đẹp! Thế là việc Tu Ðà Cấp Cô Ðộc dùng vàng mua đất
xây chùa đã kết thúc mỹ mãn.
Tiếp theo, người đại Thiện nam
phi thường ấy còn dùng đến mười tám triệu đồng tiền vàng để xây
cất chính điện, tịnh thất và tất cả các cơ sở cần thiết khác trong
chùa. Chẳng hạn như Tăng phòng, giảng đường, phạn đường, hương
đăng khố, hành lang, lối kinh hành, giếng nước, nhà vệ sinh, ao sen, chỗ
tắm v.v...! Vì vậy chẳng bao lâu sau, khoảng đất rừng thưa đã trở
thành một đại tu viện nguy nga đồ sộ, nổi bật như một trung ương tôn
nghiêm, linh địa số một của Phật giáo, thời đức Toàn Giác còn tại
thế (Theo CV. VI. 4: Tiểu phẩm số VI. 4).
Khi mọi kiến trúc hoàn tất, Tu
Ðà Cấp Cô Ðộc vội đích thân đi cung thỉnh đức Phật và chư Thánh Tăng
đến chứng minh lễ khánh thành. Cuộc khánh thành đã được tổ chức vô
cùng trọng thể dưới hình thức nhiều ngày trai Tăng, làm phước, cúng dường
thực phẩm và tứ vật dụng đến Thánh nhân.
Phần cúng dường thực phẩm ngày
đầu vừa kết thúc thì Tu Ðà Cấp Cô Ðộc yêu cầu đức Phật chỉ dạy
cách nào đúng chánh pháp nhất, để ông dâng ngôi chùa vừa kiến tạo đến
đấng trọn lành, đức Phật liền bảo:
- Này Tu Ðà Cấp Cô Ðộc! Ông hãy
hiến dâng ngôi đại tự này cho tứ phương Tăng chúng cả ba đời quá khứ,
hiện tại và vị lai.
Thế là Tu Ðà Cấp Cô Ðộc đã
thành khẩn làm theo lời Phật dạy. Và ngôi chùa cũng kể từ đó, được
đặt tên là Kỳ Viên Tự (Tức là một tu viện được xây lên ở trung
tâm công viên của Thái tử Kỳ Ðà).
Nhân để khen ngợi thiện tâm có một
không hai của hiền nhân Cấp Cô Ðộc, đức Phật còn ban kệ ngôn rằng:
"Tạo nơi che chở nhiệt, hàn, thú dữ,
Ngăn khỏi phi trùng, rắn, rít, gió mưa.
Tránh loạn cuồng phong, nóng bức hạn mùa,
Ðể Thánh chúng được yên lành tu tập.
Ðây bảo tự, duyên Tu Ðà nguyện lập,
Thiện hạnh nào hơn nghĩa cử đang làm!
Tịnh xá xây là trú sở cho tâm,
Hiến dâng vật dụng càng đầy ân đức.
Hành pháp Phật, ấy phước điền chân thật,
Gieo giống lành, quả giải thoát về sau.
Hoa nở là khi tâm hết ra vào,
Trong tam giới đầy khổ đau sinh diệt".
(N. Ð. Thoát dịch thành văn vần)
Sau lễ dâng chùa, cuộc làm phước
còn kéo dài nhiều ngày, lôi cuốn toàn thể dân chúng quanh vùng tất cả
giai cấp đều có mặt: Từ thượng tầng xã hội đến cùng đinh hạ tiện.
Mỗi người đến lễ bái đều được Tu Ðà Cấp Cô Ðộc tặng cho một
món quà làm kỷ niệm, khiến chi phí cuộc lễ một lần nữa lên đến mười
tám triệu đồng tiền vàng.
Như vậy tổng kết cuộc bố thí của
Tu Ðà Cấp Cô Ðộc trong ba đợt: mua đất, xây chùa và làm lễ đã trở
thành một con số khổng lồ là năm mươi bốn triệu đồng tiền vàng.
Ông quả thật là một tín thí vô địch của Phật giáo vậy! (Theo
Anguttara Nikàya I. 19: Tăng Chi A Hàm số I. 19).
[II] TU ÐÀ CẤP CÔ ÐỘC - MỘT ÐẠI
HỘ PHÁP
Tu Ðà Cấp Cô Ðộc tình nguyện tiếp
tục nhận lãnh trách nhiệm nuôi nấng Tăng Già và bảo trì ngôi chùa Kỳ
Viên cho đến trọn đời. Ông cung cấp hằng ngày tứ sự cúng dường đến
chư Tăng. Mỗi buổi sáng, ông dâng cơm nước. Còn buổi chiều thì ông hộ
độ thuốc men, nhang khói các lễ đài, và đôn đốc gia nhân rửa sạch
bát dĩa, giặt giũ y phục, mền chiếu, cũng như quét dọn, lau chùi toàn diện
ngôi chùa một cách thận trọng. Nói tóm lại là những công tác gì chư
Tăng không thể làm được thì ông cắt đặt nhân viên thực hiện chu
toàn. Nhất là việc chăm sóc vườn hoa và những cây cối rợp bóng mát,
cùng ao sen, giếng nước và hồ tắm, để cho khuôn viên xung quanh ngôi
chùa được luôn luôn tươi nhuận, hợp vệ sinh.
Về sau này, khi số Tăng chúng tụ
tập tại chùa và những thiền viện phụ cận, lên đến hàng ngàn vị,
thì hằng ngày, ngoài việc hộ trì toàn thể chùa Kỳ Viên, Tu Ðà Cấp Cô
Ðộc còn thỉnh thêm bảy trăm đại Tỳ khưu về nhà trai Tăng nữa. Nhà
ông là một tòa lâu đài cao bảy từng, mỗi từng chứa một trăm Sa môn,
nên đến giờ ngọ thực, lâu đài ấy trông giống như một cõi Phạm hạnh,
vì từ trên xuống dưới thấp thoáng đầy bóng y vàng và lời ăn tiếng nói
thấm nhuần thiện pháp.
Khi tiếng khen về tấm lòng hộ
pháp, rộng rãi phi thường của Tu Ðà Cấp Cô Ðộc lan rộng khắp nơi, thấu
tai quốc vương Ba Tư Nặc (Pasenadi). Nhà vua muốn ganh đua danh tiếng với
ông, đã bảo cận thần mời năm trăm vị Tỳ khưu vào cung cúng dường mỗi
ngày. Một hôm nhà vua có ý định gặp chư Sa môn để xem phản ứng của
họ về sự hộ độ rộng rãi của mình ra sao thì được vệ quan cho biết
rằng:
- Các thức ăn thức uống của triều
đình dành cho chư Tăng, tuy đã dọn sẵn và mời họ tự tiện dùng nhưng
các Sa môn lại đem trao cho những Phật tử nhiệt thành khác, rồi bảo họ
dâng cúng trở lại, cho hợp lẽ đạo.
Nhà vua cảm thấy khó chịu, thắc
mắc rằng:
- Thực phẩm của hoàng gia là những
thức ăn thượng hạng, không phải tầm thường, thế mà chư Sa môn đã chẳng
tranh nhau thọ dụng, để khen ngợi mà còn có những cử chỉ kỳ lạ?
Sau đó, quốc vương Ba Tư Nặc đến
gặp Phật để hỏi duyên cớ thì được Phật trả lời:
- Này bệ hạ! Sự cúng dường đến
chư Tăng mời vô hoàng cung của bệ hạ chỉ có hình thức vật chất, nhưng
không có giá trị tinh thần. Các quan quân được bệ hạ giao làm việc ấy
chỉ biết hành động vì tuân lệnh. Họ tuân lệnh bố thí đến các hàng
Sa môn như tuân lệnh dọn quét, rửa ráy một chỗ dơ bẩn, hay tuân lệnh
lùng bắt một tên trộm nộp trước triều đình, chứ trong thâm tâm họ
không có tối thiểu hiểu biết gì về thiện nghiệp của mình cả. Cũng
như họ không có một niềm kính ngưỡng xứng đáng nào đến chư Tỳ
khưu Tăng. Trong đầu họ còn nghĩ rằng: "Những Sa môn cao tuổi này chắc
không biết làm gì để sống nên phải ăn bám nhờ dân chúng!"
- Này bệ hạ! Khi hiến tặng một
vật mà người làm tỏ ra thái độ ấy thì người nhận không dám thọ dụng
một cách yên tâm, cho dù vật hiến tặng có đắt giá đến đâu đi nữa!
Ngược lại, khi những thí chủ gương mẫu như Tu Ðà Cấp Cô Ðộc hay
Nguyệt Trang tín nữ dâng cúng bất cứ vật gì, họ cũng hành động với
tất cả lòng thành. Chư Tỳ khưu Tăng lúc nhận, cũng thọ dụng một cách
thanh tịnh và quán tưởng rằng: "Bậc xuất gia hằng ngày được thiện
nam tín nữ hộ độ thì phải chăm lo tu hành để hồi hướng phúc đức
cho toàn thể nhân loại chúng sanh". Rồi họ từ bi đón nhận vật
thí.
- Một bữa cơm đạm bạc, hiến dâng
bởi một tấm lòng thành vẫn quý hơn cao lương mỹ vị mà đem cho với sự
lạnh lùng hay bằng một thái độ khinh bỉ.
- Này bệ hạ! Chắc bệ hạ còn nhớ
câu ngạn ngữ: "Cơm chua mà thành tâm chia sớt cho nhau thì cũng trở thành
ngon ngọt!?" (Theo Jàtaka 465: Túc Sinh truyện số 465).
Rồi để nhà vua dễ nhớ, đức Phật
còn ngâm câu kệ rằng:
"Nắm cơm tuy có tầm thường,
Nhưng tâm thành kính khi nhường cho nhau.
Thì cơm ngon biết dường nào,
Ăn cơm ngon ấy tâm vào an vui".
(N. Ð. Phỏng dịch thành văn vần theo Jàtaka 346:
Túc Sinh truyện số 346)
Tu Ðà Cấp Cô Ðộc và Nguyệt
Trang tín nữ không phải chỉ là hai thí chủ lớn nhất của Tăng Già tại
thành Xá Vệ, mà họ còn là hai cư sĩ hộ pháp đặc biệt được đức Thế
Tôn ban cho diễm phúc thay mặt Phật để tổ chức hàng ngũ Phật tử lúc
bấy giờ. (Theo các Jàtaka 337, 346, 465: Túc Sinh truyện số 337, 346, 465).
Tuy nhiên Tu Ðà Cấp Cô Ðộc dù
có tiền rừng, bạc biển đến đâu, ông cũng không tránh khỏi cái luật
thịnh suy, vô thường và bất trắc. Trong một trận đại bão lụt nọ,
ông đã bị nước cuốn trôi đi toàn thể tiền dự trữ gồm mười tám
triệu đồng tiền vàng. Rồi những người vay tiền ông tổng cộng đến
mười tám triệu đồng tiền vàng khác, cũng quịt luôn không trả!
Gia tài khổng lồ chín chục triệu
đồng tiền vàng của ông vốn đã xuất ra ba phần năm để mua đất, cất
chùa và làm lễ hết năm mươi bốn triệu đồng tiền vàng rồi (18x3=54).
Bây giờ ông gặp nạn bị thiên tai và những kẻ thiếu nợ cướp mất ba
mươi sáu triệu đồng tiền vàng còn lại nữa, thành thử bỗng chốc ông
trở thành tay không. Tu Ðà Cấp Cô Ðộc mới ngày nào là một đại triệu
phú thì hiện tại là một người nghèo.
Nhưng điều đáng quí là đối diện
với nghịch cảnh, ông vẫn tiếp tục làm bổn phận của một người hộ
pháp, nuôi dưỡng Tăng Già. Khác chăng là ngày trước ông đủ điều kiện
để dâng cúng những bữa ăn đầy đủ, thì ngày nay ông có món gì, thành
kính đem dâng chư Sa môn món ấy, để cùng nhau thanh tịnh tu tập, sống
qua ngày.
Nhắc lại lúc đó có một vị Thọ
thần ngụ trong đỉnh tháp trên tầng lầu thứ bảy tòa nhà Tu Ðà Cấp
Cô Ðộc. Cứ mỗi lần đức Phật và chư Thánh Tăng đến, y vì kinh sợ
oai đức của Thánh nhân, không dám ở yên trong trú sở trên cao của mình
phải bước xuống đất. Ðiều này làm cho y bực bội. Do đó, đã từ
lâu, vị Thọ thần hằng tìm cách để làm cho Tu Ðà Cấp Cô Ðộc không mời
Phật và chư Thánh Tăng tới nhà nữa, nhưng y vốn chưa tìm ra dịp tốt.
Nhân cơ hội Tu Ðà Cấp Cô Ðộc
trở thành nghèo, Thọ thần liền hiện đến trước mặt viên quản gia của
Tu Ðà Cấp Cô Ðộc nói rằng:
- Này bạn! Nhà bá hộ bây giờ đã
nghèo rồi, bạn nên khuyên ông chủ đừng cúng dường các Sa môn nữa.
Nhưng người quản gia lại làm ngơ,
không nghe theo lời xúi giục ấy. Thọ thần bực tức quay sang dụ dỗ cậu
con trai của viên quản gia với mục đích tương tự là chống lại đức
Phật và chư Tăng. Rồi y cũng thất bại luôn.
Sau cùng Thọ thần vận dụng hết
phép lực của mình, hiện nguyên hình có hào quang bao phủ, trước mặt chủ
nhà Tu Ðà Cấp Cô Ðộc để khuyên ông không nên tiếp tục bố thí nữa.
Thọ thần viện dẫn rằng: "Vàng bạc là của quí trên đời, không
có nó đời sống sẽ vô cùng cơ cực. Vậy nếu còn chút ít, ông không
nên đánh mất v.v...".
Nhưng Tu Ðà Cấp Cô Ðộc liền điềm
tỉnh trả lời:
- Này Thọ thần! Ðối với tôi,
trên đời chỉ có ba thứ quí nhất: Ðó là Phật, đấng thân, khẩu, ý trọn
lành, hoàn toàn giải thoát. Pháp những lời dạy chân chánh cứu khổ của
Ngài, và Tăng, những Sa môn sống đúng phạm hạnh, diệt tận tham, sân, si
phiền não, làm phước điền cho chúng sanh nhân loại.
- Này Thọ thần! Tu Ðà Cấp Cô Ðộc
này từ ngày giác ngộ được chân lý, chỉ biết tìm kiếm và bảo vệ ba
thứ ấy, ngoài ra không ưa thích bất cứ vật gì khác! Bây giờ yêu cầu
Thọ thần hãy đi chỗ khác, vì trong nhà này không có chỗ để cho một Thọ
thần chống lại Phật, Pháp, Tăng.
Thế là vị Thọ thần, theo luật của
cõi Ðịa tiên dục giới phải rời chỗ ở nhà Tu Ðà, mong mỏi đến gặp
vị Ðịa tiên đang là thần hoàng của thành Xá Vệ (Sàvatthì) để yêu cầu
xin lên bậc trên cho mình có một trú sở mới. Nhưng khi ước muốn của
Thọ thần được trình với Tứ Ðại Thiên Vương, thì bốn vị vua trời
này cũng không đủ khả năng thẩm xét một vị Thọ thần chống lại Tam
bảo, nên cuối cùng số phận của Thọ thần phải đặt vào trong tay của
vua trời Ðế Thích (Sakka).
Sống trong cảnh không có trú sở
nhất định, rày đây mai đó vị Thọ thần bắt đầu xét lại việc mình
đã làm, và ý thức được ấy là nghiệp xấu nên âm thầm hối hận. Vua
trời Ðế Thích biết được chuyện ấy bèn để cho Thọ thần lang thang một
thời gian, chừng nào can đảm quay về sám hối thì ông mới giải quyết.
Khi Thọ thần đến trước Ðế
Thích cầu sám hối và xin một thiện nghiệp gì làm, để chuộc tội thì
Ðế Thích phán rằng:
- Này Thọ thần! Ngươi ở trong nhà
Tu Ðà Cấp Cô Ðộc biết trước mọi tai nạn suy sụp của chủ nhà mà
không báo trước để gia chủ tránh là một lầm lỗi quan trọng! Bây giờ
muốn chuộc tội, người phải làm cách nào để hoàn lại gia sản cho Tu
Ðà Cấp Cô Ðộc.
Cách chuộc tội đã được đưa
ra, vị Thọ thần vô cùng mừng rỡ nhận thi hành lập tức những phán quyết
của Ðế Thích để phục thiện. Trước tiên, Thọ thần dùng thần thông
gom lại tất cả số đồng tiền vàng của Tu Ðà Cấp Cô Ðộc đã bị nước
cuốn trôi ra biển. Kế tiếp, Thọ thần tìm kiếm những kho tàng chôn dấu
vô chủ nằm trong lòng đất hay dưới nước, hoặc những kho tàng đã có
chủ, nhưng cả dòng họ con cháu hiện chết hết không còn ai thừa hưởng.
Tìm xong Thọ thần đem tặng tất cả cho Tu Ðà Cấp Cô Ðộc! Sau cùng, Thọ
thần quay sang đòi nợ cho ông bá hộ bằng cách hiện vào trong giấc mơ của
những người thiếu nợ, dùng thần lực biểu diễn, bảo phải trả nợ
cho ông Tu Ðà Cấp Cô Ðộc v.v...
Nhờ vậy, chẳng bao lâu sau, Tu Ðà
Cấp Cô Ðộc bỗng tự nhiên giàu có như cũ. Ngoài việc thu hồi số của
cải xưa, ông còn được hoạch tài thêm năm mươi bốn triệu đồng tiền
vàng nữa. Số của này tương đương với tổng cộng chi phí ba lần mua đất,
cất chùa và làm lễ, chứng tỏ rằng sự cúng dường Tam bảo của Tu Ðà
Cấp Cô Ðộc đã không làm gia tài ông giảm xuống!
Sau đó, Thọ thần hiện ra trước
mặt đức Phật để sám hối, xin Ngài tha thứ cho những nghiệp ác mà y
đã tối tăm phạm phải. Ðức Thế Tôn với lòng từ bi vô lượng đã giải
tội cho Thọ thần. Ngài còn ban pháp lành cho Thọ thần giác ngộ, rồi y
xin qui y trở thành đệ tử Phật nữa.
Ðức Phật giảng thêm cho Thọ thần
hiểu rằng:
- Một bậc đại hạnh khi đã dùng
pháp bố thí để trở thành hoàn toàn giải thoát, thì không có sức mạnh
nào trên thế gian này có thể ngăn cản họ được, dù cho sức mạnh ngăn
cản đó phát xuất từ vua chúa, phát xuất từ hiền thần hay hung thần,
phát xuất từ ác tiên hay thiện tiên, và ngay cả phát xuất từ thần chết.
(Theo Jàtaka 140 và 340: Túc Sinh truyện số 140 và 340).
Sau khi Tu Ðà Cấp Cô Ðộc đã tái
trở thành triệu phú, còn giàu có hơn trước, một người Bà la môn trong
vùng vì ganh ghét, muốn tước đoạt cái "phép lạ" (hay bí quyết)
đã cứu giúp và phục hồi gia tài Tu Ðà Cấp Cô Ðộc nhanh chóng như thế.
Y bèn nghĩ ngay đến thần tài Siri. (Theo văn minh Bà la môn giáo thì thần
tài Siri xuất hiện dưới hình thức "điềm lành" trong nhà người
nào thì người đó sẽ trở nên giàu có).
Vậy việc phải làm của người Bà
la môn ác tâm kia, là tìm cách chiếm đoạt cái "thần tài" hay điềm
lành ấy đem về nhà y, thì tự nhiên y sẽ trở nên giàu có. Ðiều này cũng
phản ảnh niềm tin của tín đồ Bà la môn giáo rằng: Ai giàu có trên đời
là nhờ tìm được "tín hiệu", tức thần tài hay phú lệnh (còn gọi
là điềm lành) do Thượng đế ban xuống trần gian. Chứ không phải sự
giàu có hiện tại là do gặt hái quả lành từ thiện nghiệp của mình đã
tạo trong kiếp trước như đức Phật đã dạy! Nói một cách khác "thần
tài" là một loại "âm binh" của Thượng đế rải xuống trần
gian. Ai tìm cách chiếm đoạt hay dụ dỗ, cầm giữ được những hình tướng
của các "âm binh" này trong nhà mình, thì mình sẽ trở nên giàu
có.
Nghĩ đoạn, người Bà la môn tìm
đến nhà Tu Ðà Cấp Cô Ðộc. Y xin phép được vào tận bên trong để
quan sát tìm kiếm tín hiệu của thần tài. Nhờ biết nham độn và có khả
năng bói toán nên y liền thấy thần tài "nằm" trong con gà trống
lông trắng được bá hộ Tu Ðà Cấp Cô Ðộc rất cưng, nhốt trong một lồng
bằng vàng.
Người Bà La môn lập tức hỏi xin
con gà cồ lông trắng, y viện lý do rằng y sẽ dùng tiếng gà gáy buổi
sáng của nó để đánh thức đám học trò dậy. Với hạnh nguyện bố
thí, Tu Ðà Cấp Cô Ðộc không chần chừ liền cho con gà. Nhưng ngay lúc
ấy "tín hiệu thần tài" lại rời con gà, nhập vào một viên ngọc
trên áo của chủ nhà. Người Bà la môn biết được sự việc quay qua xin
viên ngọc thì y thấy "thần tài" bỏ viên ngọc, nhập vào trong
cây gậy của Tu Ðà Cấp Cô Ðộc. Y lại xin cây gậy thì "thần
tài" di chuyển đến mái tóc của người đệ nhất phu nhân Tu Ðà Cấp
Cô Ðộc, tên là Punnalakkhana, một người đàn bà rất nhiều phúc đức và
luôn luôn được các hàng chư Thiên vô hình bảo vệ.
Khi người Bà la môn nhìn thấy đệ
nhất phu nhân Punnalakkhana thì y giật mình hoảng sợ, tự nhủ rằng:
"Chết chửa! Bây giờ thần tài nằm trên mái tóc của đệ nhất phu
nhân Tu Ðà Cấp Cô Ðộc, lại có Thiên chúng hộ vệ thì ta hết đường
chiếm đoạt".
Cuối cùng, người Bà la môn vì hổ
thẹn đã thú thật dã tâm của mình với chủ nhà, rồi trả lại con gà,
viên ngọc và cây gậy, đoạn bỏ đi.
Khi Tu Ðà Cấp Cô Ðộc đến thăm
Phật, thuật hết mọi chuyện liên quan đến người Bà la môn biết một
thứ nham độn mà ông không hiểu gì cả, thì được nghe đức Phật giảng
giải rằng:
- Này Tu Ðà Cấp Cô Ðộc! Sự định
tâm của con người có thể giúp họ biểu diễn được một số khả năng
đặc biệt.
- Này Tu Ðà Cấp Cô Ðộc! Nếu khả
năng vật chất của loài người có thể tiện lợi, nhanh chóng, chính xác
và tối tân hơn, nhờ vào những dụng cụ hay máy móc tinh vi, thì khả năng
tâm linh của họ cũng có thể nhiệm mầu tuyệt diệu hơn, nhờ những ưu
tính tu luyện thuần thục, thanh tịnh và thánh thiện.
- Xa hơn nữa, này Tu Ðà Cấp Cô Ðộc!
Niết bàn là một phẩm cách siêu việt đối với phàm nhân và những ai chưa
dứt sạch phiền não. Nhưng Niết bàn là một pháp rất hiển nhiên và thực
tế đối với các bậc đã hoàn toàn giải thoát. (Theo Jàtaka 284: Túc Sinh
truyện số 284).
Tu Ðà Cấp Cô Ðộc vốn có một
lòng sùng kính đức Phật vô cùng chu đáo. Ông nghĩ đến mọi hình thức
tạo phúc hướng về đức Phật. Khi đấng Toàn Giác có mặt gần ông tại
đất nhà, thành phố Xá Vệ, thì ông hẳn đến Kỳ Viên Tự lễ bái hằng
ngày. Nhưng những lúc đức Bổn Sư phải đi xa, lê gót chân ban bố chánh
pháp các nơi khác, thì ông phải làm sao? Thế là một ý nghĩ tạo phương
tiện để gián tiếp lễ bái đức Phật tại Xá Vệ lại nảy ra trong đầu
óc ông.
Một hôm Tu Ðà Cấp Cô Ðộc ngỏ
ý với Tôn giả A Nan Ðà rằng: "Ông muốn xây một kiến trúc dành
riêng cho đức Phật gần Kỳ Viên Tự". Rồi qua trung gian của Tôn giả
A Nan Ðà, ông được nghe đức Phật dạy:
- Có ba hình thức kiến trúc để
tưởng nhớ lâu dài đến tròn giáo pháp một vị Phật. Ðó là Bảo tháp
(hay đền thờ), đài Kỷ niệm, và Thánh địa:
1/ Bảo tháp (hay đền thờ) dành để an trí
các di thể, từ nhục thân của Phật để lại. Chẳng hạn như Xá lợi
hay tro quí sau khi viên tịch hỏa táng v.v...
2/ Ðài Kỷ niệm dùng để lưu giữ những
vật dụng của đức Phật đã từng ít nhất là dùng một lần lúc sinh tiền.
Chẳng hạn như bình bát, cội Bồ đề.
3/ Thánh địa dùng để gợi hình ảnh tượng
trưng cho sự xuất hiện và những sinh hoạt của đức Phật khi còn tại
thế.
Trong ba hình thức ấy để gián tiếp
lễ bái này, cái thứ nhất không có được, vì đức Thế Tôn còn sống.
Cái thứ ba cũng không thích hợp, vì Thánh địa gợi hình ảnh tượng
trưng cho sự xuất hiện và sinh hoạt của đức Phật, chỉ có giá trị
sau khi đức Phật đã khuất bóng! Còn lại hình thức lễ bái gián tiếp
thứ hai là "Phật dụng" (hay đồ dùng của đức Phật) thì khả dĩ
tạo được.
Tu Ðà Cấp Cô Ðộc liền nghĩ ngay
đến cây Bồ đề ở xứ Uruvela, gần sông Ni Liên (Anoma) mà đức Phật đã
dùng che nắng che mưa, để tìm ra con đường giải thoát, cứu khổ cho
mình và toàn thể chúng sanh. Chính dưới cội Bồ đề này, Ngài đã tìm
ra và mở được cánh cửa bất tử.
Suy nghĩ về những giá trị vật dụng
như thế, sau cùng Tu Ðà Cấp Cô Ðộc quyết định mang một nhánh Bồ đề,
từ chỗ đức Phật đã đắc đạo kia, về trồng trong thành Xá Vệ.
Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên biết
được thiện ý của Tu Ðà Cấp Cô Ðộc, liền tình nguyện dùng thần
thông chiết một nhánh con Bồ đề từ Bồ đề đạo tràng, mé rừng
Uruvela (Khổ Hạnh lâm) thuộc nước Ma Kiệt Ðà (Magadha) mang về thành Xá
Vệ. (Lời thêm của dịch giả: Khoảng cách từ thành Xá Vệ đến Bồ đề
đạo tràng rất xa, ngày nay nếu đi xe hơi cũng phải chạy một ngày ròng
rã mới tới. Vả lại, thuở ấy kỹ thuật canh nông trồng trọt không tối
tân như bây giờ. Một nhánh Bồ đề con mà chuyên chở bằng kỵ mã hay
mã xa, dưới ánh nắng như thiêu như đốt của miền Trung Ấn thì không
cách gì còn sống đến chỗ trồng. Ðây chính là lý do mà Tôn giả Ðại
Mục Kiền Liên đã phải dùng thần thông, một khả năng mà Thánh Tăng chỉ
dùng trong những trường hợp bị bắt buộc.
Nhắc lại việc trồng cây Bồ đề
tại đại ngọ môn chùa Kỳ Viên thành Xá Vệ. Khi ấy, ngoài sự chứng
minh của đức Phật và Thánh chúng, còn có sự hiện diện của quốc vương
Ba Tư Nặc. Tôn giả A Nan Ðà nhìn Ðại thánh Mục Kiền Liên thì thấy tự
nhiên ông biến mất. Rồi chỉ một nháy mắt sau, ông đã hiện nguyên
hình trở lại, trên tay cầm một nhánh Bồ đề con tươi rói, như mới
được chiết từ thân cây mẹ cách đó vài giây. Tôn giả A Nan Ðà nhân
muốn đề cao thẩm quyền cai trị của một vị quốc vương trong lãnh thổ
của họ, nên đã đón lấy cây Bồ đề con trên tay Ðại thánh Mục Kiền
Liên và trao lại cho vua Ba Tư Nặc.
Nhưng vua Ba Tư Nặc vội khiêm nhường
nói rằng:
- Bạch đức Thế Tôn và chư Thánh
Tăng! Trẫm chỉ là người đứng đầu trong vương quốc về mặt đời. Còn
về mặt đạo, chính Tu Ðà Cấp Cô Ðộc mới là bậc cư sĩ duy nhất xứng
đáng gieo trồng giống Bồ đề thánh thiện này trên lãnh thổ của chúng
ta. Vậy trẫm đề nghị nhường danh dự ấy cho Tu Ðà Cấp Cô Ðộc".
Thế là cây Bồ đề được trồng
tại trung tâm công trường, cổng chính dẫn vào Kỳ Viên Tự.
Và thời gian lặng lẽ trôi qua cây
Bồ đề trước, chùa Kỳ Viên mỗi ngày một cao lớn, cành lá sum suê, cho
bóng mát và nhắc nhở những kẻ thiện tâm tưởng nhớ đến khung cảnh
nơi đức Phật đã thành đạo. Ðể tăng cường ý nghĩa sự hiện diện của
cây Bồ đề chùa Kỳ Viên, Tôn giả A Nan Ðà còn cung thỉnh đức Phật ngồi
tham thiền bên gốc cây Bồ đề này để ban phúc đến Thọ thần và làm
cho địa điểm càng lúc càng tăng sự thánh thiện, thanh tịnh.
Riêng Tu Ðà Cấp Cô Ðộc, kể từ ngày cây Bồ
đề hiện diện trước Kỳ Viên Tự ông đã xem đó như một hình ảnh thứ
hai của đức Phật, nhất là những khi đấng Toàn Giác đi hóa đạo
phương xa. Tu Ðà Cấp Cô Ðộc hằng ngày lại dùng cây Bồ đề làm đề
mục tu thiền và ông đã ổn định được tâm hồn mình xuyên qua một
hình ảnh gần nhất với sự đắc đạo của đức Phật (Theo Jàtaka 479:
Túc Sanh truyện số 479).
Lời nói đầu
| Phần 1 | Phần 2 | Phần 3