- Thiền Tứ Niệm
Xứ
- Thích Trí Siêu
-2-
Tứ Niệm Xứ và Thiền Tông
Như bạn đọc đã xem qua, Tứ Niệm
Xứ là một pháp hành thiền rất quan trọng mà xưa kia tất cả Thánh Tăng
đã hành theo đó mà đắc quả vô sanh (A La Hán). Dù quan trọng như vậy,
nhưng sau khi Đức Phật nhập diệt, Tứ Niệm Xứ dần dần bị lãng quên.
Riêng ở Việt Nam thì chư Tổ xưa kia đều là Thiền Sư, và Thiền ở Việt
Nam bắt nguồn từ Thiền tông Trung Hoa.
Ở đây tôi sẽ so sánh pháp Thiền
Tứ Niệm Xứ và Thiền Tông để bạn đọc thấy rằng hai pháp môn này
không khác nhau là mấy.
Thiền Tông
Theo Bắc tông thì vị Thiền Tổ thứ
nhứt là ngài Ma Ha Ca Diếp (Maha Kassapa). Sau đó giòng Thiền được truyền
đến vị Tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma), đến đây giòng Thiền
ở Ần Độ được truyền sang Trung Hoa. Ở Trung Hoa Bồ Đề Đạt Ma được
xem là Sơ Tổ, và giòng Thiền tiếp tục truyền đến Lục Tổ Huệ Năng,
sau đó y bát không còn được truyền xuống nữa. Nhưng bắt đầu từ Lục
Tổ trở đi thì Thiền Tông rất hưng thịnh, và đã truyền sang các nước
lân bang như Cao Ly, Nhật Bản, Việt Nam.
Thiền Tông có cả thảy 33 vị Tổ,
nhưng được đề cao nhất là Tổ Bồ Đề Đạt Ma, chính vị Tổ này đã
cho Thiền Tông một sắc thái đặc biệt khi sang Trung Quốc tuyên bố rằng
đây chính là:
Giáo ngoại biệt truyền
Bất lập văn tự
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành Phật.
Do từ khẩu hiệu này mà Thiền
Tông (ở Trung Hoa) còn được gọi là Tổ Sư Thiền, tức là Thiền xuất
phát từ các Tổ Sư.
Đến đời Lục Tổ Huệ Năng thì
Thiền lại chia làm hai phe. Nam đốn, Bắc tiệm (Tổ Huệ Năng xiển dương
đốn ngộ ở phương Nam, Ngài Thần Tú chủ trương tiệm tu ở phương Bắc).
Sau một thời gian thì chỉ còn lại Thiền phương Nam là thịnh hành hơn cả,
nên Thiền Tông lại được gọi với một danh từ khác là Thiền Đốn Ngộ.
Chính phái Thiền này được truyền thừa từ Trung Hoa sang Việt Nam do Tổ
Tỳ Ni Đa Lưu Chi, và chư Tổ sau này đều thuộc giòng Thiền này.
Chủ trương của Thiền Tông là
gì? Vẫn là bốn câu kệ của Tổ Đạt Ma: "Chẳng lập văn tự, Truyền
ngoài giáo lý, Chỉ thẳng tâm người, Thấy tánh thành Phật".
Chính bài kệ này đã làm cho Thiền
Tông nổi bật với tánh cách kỳ dị của nó. Người ngoài mới nhìn vào
có thể lầm lẫn, tưởng Thiền là một pháp môn đặc biệt, tu theo đó
mau thành Phật. Nhưng thật ra bài kệ trên nếu đem áp dụng vào thực tế
thì nó không còn đúng hẳn với ý nghĩa của nó nữa. Xưa kia các Thiền Sư
mỗi ngày đều thượng đường nói pháp, lời lẽ câu văn của các Ngài
có thể thô tục, tầm thường, không văn hoa như những danh từ dùng trong
Kinh điển, nhưng tất cả đều ngụ ý giảng giải giáo lý của Phật,
làm sao có thể nói "chẳng lập văn tự, truyền ngoài giáo lý "được.
Các Thiền Sư thường đánh đập,
la hét, dùng đủ mọi phương tiện để cho đệ tử nhận ra ông chủ, hay
tánh giác của mình, "chỉ thẳng tâm người" chỉ là một cách
nói mà thôi. Nếu thấy tánh thành Phật liền thì 33 vị Tổ Thiền Tông đều
đã là Phật cả rồi, nên nói đúng hơn là thấy tánh thành Tổ.
Tuy vậy nếu so sánh với các Tông
phái khác thì Thiền Tông vẫn đặc biệt hơn, với tánh cách phóng khoáng
tự tại trong việc dùng phương tiện để chỉ cho người tu nhận lại tánh
giác hay "bản lai diện mục". Khi nhận được tánh giác rồi, người
tu phải tiếp tục tinh tấn thực hành chánh niệm (Samma-Sati) xả trừ vọng
tưởng đến ngày hoàn toàn sống với tánh giác (hằng giác) thì lúc đó gọi
là chứng ngộ. Có chứng ngộ mới thoát khỏi sanh tử luân hồi, còn giác
ngộ chỉ mới là chánh kiến (Samma Ditthi) phần đầu trong Bát Chánh Đạo
(Ariya Magga).
Người mà nhân nghe nửa câu hoặc
một câu ngộ đạo, hay bị một đạp, một gậy giác ngộ, thì được gọi
là "truyền tâm ấn". Những người này thường là những người
lanh trí lẹ mắt, vì thế nên Thiền Tông được xem như chỉ dành cho hàng
thượng căn. Nhưng hàng thượng căn thì bao giờ cũng ít, mà hạ căn thì
bao giờ cũng nhiều, nên lần lần theo thời gian Tâm ấn bị thất truyền.
Phần khác, sau này Tông Tịnh Độ được xiển dương rất hưng thịnh, nên
những ai muốn tu Thiền không biết nương vào đâu. Nếu muốn nương vào
nhà Sư thì tâm ấn thất truyền, lấy ai cho ta thoại đầu, công án hay đánh
đập đúng lúc cho ta giác ngộ. Thật ra các công án, thoại đầu, đánh đập,
la hét chỉ là những phương tiện thiện xảo của các Thiền Sư tùy bệnh
cho thuốc, rút đinh nhổ chốt, quả dưa chín một phen xúc chạm liền rớt.
Các ngài không để lại phương thức tu tập nào cả, nếu để sẽ trái với
câu "Bất lập văn tự, Giáo ngoại biệt truyền". Vì các ngài cố
ý không theo một thứ lớp tu tập nào cả, nên có một số người tu theo
Tiểu Thừa cho Thiền Tông là một quái thai của Phật giáo.
Ngày nay giòng Tổ Sư Thiền gần
như đã mất, trừ ra có Hoà Thượng Thanh Từ đang cố gắng hoằng dương
lại. Kinh băng và sách của Thầy đã được phổ biến rộng rãi ở hải
ngoại. Tuy nhiên nếu chỉ nghe kinh băng hoặc đọc sách để mong chờ ngày
giác ngộ thì đó là một ảo tưởng. Vì Thiền là một pháp hành, không
phải pháp học, tự mình phải chiêm nghiệm thấy rõ được sự lưu chuyển
của tâm thức mới mong thấy được tự tánh.
Kinh sách Thiền Tông ít có ghi lại
những phương thức tu tập, đa số chỉ ghi lại những biến cố giác ngộ
của các Thiền Sư, mang nhiều tính cách ly kỳ, hấp dẫn như các trường
hợp giác ngộ khi bị đánh, hét, hoặc khi thấy hoa nở, nghe tiếng mưa
rơi v.v... khi đọc những trang sách này, người tu Thiền thường có khuynh
hướng mong cầu được giác ngộ giống như vậy.
Nếu đọc Kinh sách Nguyên Thủy như
trong Trưởng Lão tăng kệ (Theragatha), ta sẽ thấy trong đó cũng có ghi lại
những trường hợp mà chư Thánh Tăng trong thời đức Phật đã giác ngộ.
Thí dụ trường hợp của Ngài A Nan chứng quả A la Hán trong khi đang quay mình
đặt lưng xuống nghỉ, ngài Châu lợi Bàn Đà Già ngộ đạo trong khi đang
quét nhà v.v... Những sự việc này ít được nói đến, vì đó chỉ là kết
quả hiển nhiên của một sự tu tập chánh niệm hoặc Minh Sát Tuệ đến
mức thành tựu.
Chân lý là cái gì tuyệt đối, Pháp
thân thì bất khả thuyết, bất khả tư nghì, vì thế Thiền Tông chủ trương
chỉ thẳng (cho người nhận ra) bổn tánh, không dài giòng văn tự. Càng
nói lý bao nhiêu, càng đi xa Thiền bấy nhiêu. Việc đó chỉ dành cho những
học giả muốn thỏa mãn tài phân tách lý giải của mình mà thôi.
Chúng ta thường hay học thuộc lòng
những câu kệ, chú của các Thiền Sư đắc đạo, rồi mỗi khi nói đến
Thiền thì đem ra lập lại, giảng nghĩa bàn luận, có biết đâu là mình
đang nhai đi nhai lại cặn bã của kẻ khác. Người nào tu người đó biết,
người nào chứng người đó hay, những câu thơ câu kệ xưa kia là của
riêng các Thiền Sư, không dính líu gì đến ta cả, không nên si mê dại dột
mà nhận của người làm của mình. Vì nhận lầm như thế nên đa số người
học Thiền đều tưởng lầm là mình phá chấp và sắp sửa thành Tổ cả
rồi.
Xưa kia Tổ Đạt Ma đem Thiền vào
Trung Quốc với một hình thái kỳ dị nhằm mục đích giải tỏa sự chấp
chặt vào văn tự Kinh điển của một số người thuở đó ưa học Phật
mà không chịu tu Phật. Ngày nay trình độ học Phật rất kém, nên ta
không thể chấp vào Kinh điển được, nhưng ngược lại chúng ta lại đi
chấp chặt vào những thi kệ của chư Tổ, nhất là Thiền đốn ngộ. Vì
lý do này, tôi nghĩ rằng những ai muốn truyền bá Thiền, hãy nên truyền
bá Thiền của Ngài Thần Tú hơn là Thiền của Tổ Huệ Năng. Làm như vậy
có thể có lỗi với Lục Tổ, nhưng chắc không phụ ơn đức Phật. Vì đức
Phật chỉ muốn làm sao cho chúng ta thoát khỏi sanh tử luân hồi, chứ
Ngài đâu có muốn chúng ta thành Tổ?
Thiền Tông đặt nặng và đề cao
sự đốn ngộ quá, để rồi những người theo Thiền sau này quên đi con
đường dẫn đến giác ngộ, nó chỉ là một trợ duyên cuối cùng giúp
cho hành giả ngộ đạo mà thôi.
Cũng cần nhắc lại là ngộ đạo
chưa phải hoàn toàn giải thoát (sanh tử). Ngộ đạo (satori) chỉ là bước
đầu, đồng nghĩa với kiến tánh, hay giải ngộ. Trong Kinh Pháp Hoa có nói
Khai Thị Ngộ Nhập tri kiến Phật. Ngộ rồi phải tu tiếp đến khi nhập
mới thôi, lúc đó gọi là chứng ngộ, hay hoàn toàn giải thoát. Từ lúc
ngộ đạo cho đến lúc hoàn toàn giải thoát, con đường còn lại vẫn
còn cam go và khó khăn, hành giả phải khéo léo, kiên nhẫn đối phó với
mọi sự cám dỗ, thu hút của trần cảnh bên ngoài, và sự lừa bịp, lôi
kéo của vọng tưởng bên trong. Không phải một sớm, một chiều mới cất
bước lên đường mà đã tới đích rồi đâu.
Thiết nghĩ, chúng ta không nên dùng
chữ Thiền Đốn Ngộ mà đúng hơn nên dùng chữ Tổ Sư Thiền. Vì chữ
Thiền Đốn Ngộ hay làm cho người ta hiểu lầm là nếu tu theo Thiền này
sẽ mau giác ngộ. Nhưng " tu nhất kiếp, ngộ nhất thời ", hay tu vạn
kiếp ngộ nhất thời cũng có. Đạo Phật dạy về nhân quả, có gieo nhân
giác ngộ mới mong gặt được quả giác ngộ. Khi có đầy đủ " nhân
và duyên " thì quả giác ngộ tự thành. Nếu có người nào bảo rằng
không học mà biết, không tu mà thành thì người đó không nói đạo Phật.
Thí dụ trường hợp của Ngài Huyền Giác (tác giả Chứng đạo Ca)
đương thời gọi Ngài là "Nhứt túc giác" (một đêm giác ngộ).
Trước khi đến tham vấn Lục Tổ, Ngài đã tu hành giới hạnh trang
nghiêm, chuyên tu chỉ quán (Samatha-Vipassanà). Nhân duyên đã đầy đủ, đến
khi gặp Lục Tổ liền được ấn chứng.
So sánh Tứ Niệm Xứ và Thiền Tông
Thiền Tông được truyền xuống từ
chư Tổ nên gọi là Tổ Sư Thiền. Còn Tứ Niệm Xứ được gọi là Thiền
gì? Tứ Niệm Xứ là phương pháp hành thiền mà chính đức Phật đã áp dụng
cách đây trên 2531 năm và đã dạy lại cho các đệ tử, nên được gọi
là Như Lai Thiền. Một Thiền của Tổ Sư, một Thiền của Như Lai, vậy
Thiền nào đúng, Thiền nào sai, Thiền nào cao hơn Thiền nào?
Cả hai đều nhằm mục đích đưa
hành giả đến chỗ giác ngộ giải thoát, nên đều được coi là chánh
pháp cả. Còn Thiền nào cao hơn Thiền nào? Ai mà đặt ra câu hỏi này thì
thiệt là ..... không biết nói sao? Vì vấn đề không ở cao hay thấp mà
ở chỗ người bệnh nào thì cho thuốc đó mà thôi. Vậy cao hay thấp thì
không, nhưng khác nhau thì có. Tuy thấy khác nhưng thật ra cũng không thể gọi
là khác được. Vì một bên đặt nặng về lý, còn một bên chỉ dạy về
sự. Về lý thì Thiền Tông quả là độc nhất vô nhị, với sự đánh đập,
la hét khiến người cầu đạo ngỡ ngàng, cố gắng tìm những lý thuyết
sâu xa ở đó. Nhưng về sự, tức phần thực hành tu tập thì Thiền Tông
vẫn nằm gọn trong Tứ Niệm Xứ.
Cổ Đức xưa có câu :
Đốn ngộ tuy đồng Phật
Đa sanh tập khí thâm
Phong đình ba thượng dũng
Lý hiện niệm du xâm.
Dịch nghĩa là :
Đốn ngộ tuy đồng Phật
Nhiều đời tập khí sâu
Gió ngừng sóng vẫn đập
Lý hiện niệm còn xâm.
(Trích Yếu chỉ Thiền tông, H.T Thanh Từ)
Khi đốn ngộ thì chỗ thấy không
khác chư Phật, song tập khí chất chứa từ nhiều đời, nhiều kiếp không
thể một lúc mà sạch hết. Cần phải nổ lực buông xả vọng tưởng, lâu
ngày mới hết, như gió đã dừng mà sóng chưa lặng, phải đợi thời gian
từ từ nó mới yên. Chân lý đã thấy rõ rồi mà vọng niệm vẫn còn
xâm lấn mãi. Vì thế sau khi giải ngộ cần phải cố gắng tu hành mới
được chứng ngộ.
Về lý thì Thiền nói trăng, nói cuội,
chỉ đây nói đó, nhưng về sự thì không ngoài việc "diệt trừ vọng
tưởng". Muốn diệt trừ vọng tưởng không có pháp nào khác hơn ngoài
Chánh niệm (Samma-Sati) là chi thứ bảy trong Bát Chánh đạo (Ariya-Magga).
Trên phương diện hành Thiền,
Chánh niệm cần được hiểu là quán niệm một cách chân chánh, chân
chánh ở đây còn có nghĩa là khách quan. Vậy chánh niệm là quán niệm hay
rõ hơn là quán sát và ghi nhận một cách khách quan. Phải quán niệm khi
nào, lúc nào? Việc thực hành quán niệm không thể nằm ngoài bốn lãnh vực
(bốn niệm xứ), đó là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp.
Trở về Thiền Tông, ta thường
nghe nói: gánh nước, bửa củi là Thiền, lặt rau, hái cỏ cũng là Thiền.
Có người hỏi Thiền Sư Huệ Hải: "Tu Thiền dụng công thế
nào?". Thiền Sư trả lời: "Khi đói thì ăn, khi mệt thì ngủ!".
Người kia lại hỏi: "Ai mà chả đói thì ăn, mệt thì ngủ. Tất cả
mọi người đều như vậy, có gì là khác?". Thiền Sư bảo: "Khi
ăn ta biết đang ăn, khi ngủ ta biết đang ngủ. Còn người đời thì khi
ăn chẳng chịu ăn, đòi trăm thứ cần dùng, khi ngủ chẳng chịu ngủ,
tính toán ngàn chuyện!". [1] Xem ra ở đây có khác gì niệm thân của Tứ
Niệm Xứ: "Khi thở vào một hơi dài, hành giả biết mình đang thở vào
một hơi dài...". Trong mỗi cử động của thân thể: đi, đứng, nằm,
ngồi Thiền Sư đều giữ chánh niệm, không cho tâm phóng đi một cách bừa
bãi theo vọng tưởng, đó chính là niệm thân vậy.
Các Thiền Sư có lúc đánh đau điếng
hoặc xô đệ tử què chân, đó không phải đánh thức người đệ tử trở
về hiện tại với niệm thọ là gì? Thay vì rong ruổi theo vọng tưởng.
Nhà Thiền có câu: "Không sợ
niệm khởi mà chỉ sợ giác chậm" có nghĩa là không sợ vọng niệm
khởi lên, mà chỉ sợ không tỉnh giác nhận liền ra nó. Đó có khác gì
niệm Tâm của Tứ Niệm Xứ? Xưa kia Tổ Huệ Khả không chịu niệm Tâm,
phải chờ đến lúc gặp Tổ Đạt Ma bảo: "đem tâm ra ta an cho", mới
chịu trở về tìm tâm.
Nhân nghe tiếng mưa rơi, nhìn thấy
hoa nở.v.v... mà nhận ra bổn tánh, đó phải chăng thuộc về niệm pháp?
Tu Thiền cần phải diệt vọng tưởng.
Muốn diệt vọng tưởng phải có chánh niệm, mà chánh niệm không ngoài Tứ
Niệm Xứ. Vậy Tứ Niệm Xứ là phép thực hành căn bản của Thiền.
Thế còn đặc tánh giác ngộ của
Thiền Tông thì sao? Đặc tánh giác ngộ của Thiền không phải vô duyên cớ.
Vào khoảng thế kỷ thứ 5, sau khi Kinh điển vừa được đem từ Ần độ
sang Trung Hoa, các học giả Phật dồn hết tâm lực vào công cuộc phiên dịch
Kinh điển từ Phạn ra Hán văn. Sau đó mọi người đều hăng say đi tìm
chân lý nơi văn tự của Kinh điển. Dần dần họ bị như thu hút vào mê
hồn trận của giáo lý cao siêu Đại Thừa, để rồi quên đi những Kinh
điển căn bản nhưng giản dị và thiết thực của Tiểu Thừa. Càng đi sâu
vào triết lý văn tự của Kinh điển, họ càng hoang mang không biết đâu
là đạo, đâu là chân lý. Đến lúc cùng đường, bí lối thì may thay, Bồ
Đề Đạt Ma đã xuất hiện như một vị cứu tinh với câu: "Giáo ngoại
biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật".
Và từ đó Thiền Tông nổi tiếng là một pháp môn đốn ngộ. Ai nấy đều
đi tìm Thiền Sư chỉ cho giác ngộ. Giác ngộ cần được thực hiện chứ
không phải để mong cầu. Chỉ có những người quên và không biết sống
với thực tại, lo đi tìm chân lý ở những gì cao xa mới đi tìm giác ngộ.
Xưa kia Tổ Đức Sơn đi đâu cũng
giảng Kinh Kim Cang, ngài Pháp Đạt tụng làu ba ngàn bộ Kinh Pháp Hoa, mà vẫn
không ngộ đạo, phải chờ đến khi có người chỉ cho chỗ tầm thường
nhất mới chịu nhận ra.
Người tu theo Đại thừa cũng vậy,
chỉ lo tụng Kinh Pháp Hoa, Kim Cang, Niết Bàn, Hoa Nghiêm, v.v.... mà không chịu
đọc Kinh Pháp cú, Chuyển pháp luân, Tứ thập nhị chương, Kinh Niệm Xứ,
v.v... Thiền Tông đã khéo tô điểm "giác ngộ", để người ta tưởng
rằng nó chỉ nằm trong tay của các Thiền Sư, rồi đua nhau đi tìm Thiền
Sư chỉ cho giác ngộ.
Hỡi những người đang đi tìm
giác ngộ chân chánh, hãy dừng chân lại! Tại sao phải đi tìm giác ngộ?
Tại vì bất giác. Bất giác chánh niệm, hay là thất niệm: ăn không biết
mình đang ăn, mặc không biết mình đang mặc, thở không biết mình đang thở;
giận không biết mình đang giận ... Thiền Tông thường nói giác ngộ là
nhận ra ông chủ, hay bản lai diện mục. Nhưng theo tinh thần Tứ Niệm Xứ
thì giác ngộ là nhận biết được bản chất của thực tại, vô thường,
vô ngã và muốn vậy thì phải thực hành chánh niệm. Người đời thường
ưa chữ giác ngộ hơn chánh niệm, vì họ cho rằng giác ngộ là một điều
rất khó, còn chánh niệm thì quá dễ. "Ắn mà biết mình đang ăn"
thì ai chả biết? Đó là chánh niệm đã bị tầm thường hóa rồi. Chỉ
có những người không biết hoặc chưa thực hành đúng đắn mới coi thường
chánh niệm mà thôi. Chánh niệm không phải là ý thức suông việc đang ăn
của mình, mà phải thấy rõ, trực nghiệm tất cả tiến trình của sự
ăn, tức là từ lúc bắt đầu ăn, đang ăn, cho đến hết ăn, và tất cả
những gì xẩy ra trong lúc ăn. Vì vậy chánh niệm phải được thực hiện
trong từng giây phút, từng sát na, và việc đó không phải dễ, mà ngược
lại vô cùng khó khăn, đòi hỏi nhiều thời giờ và kiên nhẫn, nếu
không thì ta đã thành A La Hán rồi!
Tóm lại Thiền Tông và Tứ Niệm Xứ
không xung khắc nhau mà ngược lại còn bổ khuyết cho nhau. Thiền Tông
chuyên về lý (mặc dù nói bất lập văn tự). Người tu Thiền tìm phương
pháp chắc chắn phải đi qua con đường Tứ Niệm Xứ. Trong Kinh Tứ Niệm
Xứ không nói lý cao siêu, nhưng người tu Thiền đừng nên xem thường nó,
vì không phải ai cũng có thể tu theo Tứ Niệm Xứ đâu, chỉ có những người
hiểu được "bình thường tâm thị đạo" mới chịu khó kiên nhẫn
hành theo mà thôi.
Chú thích:
[1] Trích Thiền Đốn Ngộ. HT Thanh
Từ
Mục lục và
giới thiệu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6