Tượng đài Alexandre Rhodes: Ai là người hô biến?
-
Trần Điều
Trong khi thiền sư Vạn Hạnh với tầm nhìn xa
rộng cố vấn và thuyết phục vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long để tạo kế
lâu dài cho dân tộc còn chưa có một tượng đài xứng tầm ở Thủ đô thì Đắc
Lộ đang được người ta "rục rịch cổ vũ" kéo ra đứng ở Thăng Long.
Mảnh đất Việt Nam đã phải chịu 1.000 năm
Bắc thuộc và 100 năm Pháp thuộc. Những thế kỷ ngoại thuộc đầy tủi nhục
và đau thương ấy cung cấp cho ta cái nhìn nhiều chiều về hệ lụy chiến
tranh và bộ mặt thật của những đồng thủ phạm đã tạo ra nó.
Chiến tranh xâm lược được cổ động qua
những bộ óc và cả những “văn tự” chứa đựng âm mưu đồng hóa. Trong âm mưu
đó, nhiệm vụ căn bản để người dân bản địa quên gốc mất nguồn chính là
những hành động triệt tiêu bản sắc văn hóa, phá hoại di sản, áp đặt giáo
dục...
Điều khủng khiếp là nó được ẩn núp dưới
hóa những từ như “văn minh”, “khai hóa” hết sức thâm độc. Nhưng âm mưu
đồng hóa đó lại được một số người chủ ý ca tụng trong một xã hội mà
nhiều việc làm, nhiều mối quan hệ đang cần phải làm sáng tỏ dưới khía
cạnh “động cơ”.
Đó là những điều người viết buộc phải
nhắc đến qua bài viết “Một Tượng đài ALEXANDRE DE RHODES, sao không...”
(sic) của Nguyễn Hàng Tình trên Tia Sáng online ngày 16/7/2009.
Hàng Tình quả là biết “Tàng Hình” khi
viết: “Hằng ngày khi những cuốn sách được giở ra trong trường học,
những trang báo được lật ra đây đó trên khắp các đường phố Việt Nam, cả
những trang Web Việt ngữ được bày ra mênh mông trên mạng... có khi nào
ta bình tâm để nghĩ về cái gốc gác thiêng liêng của “Tiếng” nước mình,
về con chữ, và cả người đã tạo ra”.
Hàng Tình muốn “văn vẻ” đến cái chữ viết
La-tinh, và quy hết “công” cho Alexandre de Rhodes (linh mục Dòng Tên,
có tên Việt là Đắc Lộ). Đắc Lộ đã học tiếng của người Việt, đã mượn cái
tiếng đó để “sáng chế” ra chữ quốc ngữ (chưa đầy đủ khi đó).
Trong bài thuyết trình đọc tại Giáo xứ
Công Giáo Việt Nam ở Paris nhân kỷ niệm 400 năm sinh nhật Đắc Lộ
(1593-1993), Nguyễn Khắc Xuyên đã viết:
“Thực ra Đắc Lộ không phải là người
sáng chế ra thứ chữ viết theo tự mẫu Latinh. Đây là một sự nghiệp chung
của một số giáo sĩ thuộc nhiều dân tộc khác nhau, trong đó đặc biệt là
người Bồ, rồi tới người Ý, người Pháp. Nhưng Đắc Lộ là người được nói
tới nhiều hơn hết và vì đó kể như có công nhất, bởi vì các tác phẩm của
ông còn tồn tại cho tới ngày nay, trong khi nhiều tác phẩm của các đồng
nghiệp đã thất lạc…” (Giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes)
1593-1660).
Và Nguyễn Đình Đầu, một trong những người
bênh vực Đắc Lộ hết mực, cũng phải công khai thừa nhận “không một ai
trong hội thảo cho rằng Đắc Lộ “là người sáng nghĩ ra chữ Quốc ngữ”, mà
chỉ là người học nói tiếng ta từ chính người Việt...” (Bùi Kha -
Biện chính với Nguyễn Đình Đầu).
Chúng ta “bình tâm” nhưng không phải để
nghĩ về “cha đẻ” ấy mà là để hiểu rõ hơn về những cố gắng sáng tạo chữ
viết của ông cha trong nhiều thế kỷ đã dần định hình một thứ chữ Nôm
nhưng đã bị những âm mưu đồng hóa thủ tiêu bằng mọi cách.
Thực ra Hàng Tình chưa tiếp xúc với những
tranh luận gần đây (năm 2008) giữa Bùi Kha và Nguyễn Đình Đầu về Đắc Lộ
trên tạp chí Hồn Việt, nên mới nhắm mắt mà viết “cha đẻ ra chữ viết
tiếng Việt hiện đại, chữ Quốc ngữ, ông Alexandre de Rhodes - một người
sinh ra từ vùng Avignon (Pháp), có gốc Do Thái ấy, biệt khuất chúng ta
kể từ rất lâu rồi, vào thế kỷ XVII”.
Hàng Tình so sánh: “Nhìn quanh các
nước Đông Á, nhận ra lịch sử đã đưa đẩy ngôn ngữ Việt ta thoát ra khỏi
hệ thống chữ viết tượng hình, khỏi món nợ “vay mượn” dai dẳng lối ghi âm
(chữ viết) Trung Hoa, cái ước mơ đau đáu Nhớ Cụ mà người Nhật, Triều
Tiên chưa thực hiện được. Với chữ viết (có được như hiện nay), rõ ràng
là cái rõ nhất chúng ta có độc lập, đang thực sự độc lập”.
Ông cha ta đã từ chữ viết tượng hình của
người Trung Hoa mà sáng tạo ra chữ Nôm trong hoàn cảnh ý thức về một dân
tộc cần phải có chữ viết riêng. Chưa thể làm gì hơn cho việc phổ biến
chữ viết ấy thì quân Pháp xâm lược Việt Nam. Đắc Lộ từng thừa nhận: “Tôi
chưa công bố thánh chiến chống mọi địch thù của đức tin ở Nhật, ở Trung
Quốc, ở Ðàng Trong, ở Ðàng Ngoài và ở Ba Tư thì lập tức đã có một số
đông con cái thánh Inhaxu, đầy tinh thần đã đưa thánh Phanchicô Xavie
tới ba trăm quốc gia, các ngài đã bừng bừng ao ước vác thánh giá Thầy và
đem đi cắm những nơi cùng kiệt cõi đất.” (Hành trình và truyền giáo).
Giám mục Puginier, người có công lớn
trong việc chiếm phá chùa Báo Thiên để xây nhà Thờ lớn Hà Nội (hiện nay)
thì không ngần ngại tuyên bố: “…tôi xem việc tiêu diệt chữ Nho và
thay thế dần dần ban đầu bằng tiếng An Nam (chữ Quốc ngữ, BK), rồi bằng
tiếng Pháp như là phương tiện rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu
nghiệm để lập nên tại Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ ở Viễn Ðông”.
Cứ như lời của Puginier nói thì mục tiêu
cuối cùng trong công cuộc đồng hóa là người Việt sẽ sử dụng tiếng Pháp.
Và nếu không có những người cộng sản thì chắc người Việt sẽ không viết
như chúng ta hôm nay, để ai đó “kể công” của Đắc Lộ mà không màng đến
liêm sỉ quốc gia. Không hiểu sao Hàng Tình “đóng đinh” rằng “chúng ta có
độc lập, đang thực sự độc lập” khi thoát ra khỏi cái chữ tượng hình.
Mượn của Trung Hoa thì không có “độc lập”, còn mượn của Latinh thì có
“độc lập” thực sự chăng?
Hàng Tình hiểu “độc lập” này như thế nào?
Giống như quốc gia Philippinne nói và viết hoàn toàn bằng chữ Latinh
chăng? Còn người Nhật, hiện nay họ vẫn sử dụng phần lớn chữ Trung Hoa
nhưng văn hóa của họ, tiếng nói của họ có biến mất không? Có ai bảo họ
không có “độc lập” không? Các nước sử dụng mẫu tự Latinh ở phương Tây sẽ
định nghĩa sao về “độc lập” cho riêng mình?
Chưa hết, trong Thư đề ngày 12/01/1882,
từ Chợ Quán “Kính gởi các vị trong Hội Đồng Thuộc Địa”, Bao-ti-xi-ta
Trương Vĩnh Ký viết rõ hơn về mục đích các tác phẩm của ông:
“Thưa quí vị,
Tôi hân hạnh gởi đến quí vị một bản
trình bày từng tác phẩm xuất bản mà tôi đã biên soạn.
Làm như vậy, ý định của tôi là để
chứng tỏ với quý vị rằng trong 13 cuốn sách tôi đã xuất bản cho đến nay
do tiền tôi bỏ ra, tôi chưa bao giờ đi lệch mục tiêu chính và trực tiếp
mà tôi đã trình bày trước đây trong các thư tôi viết vừa cho nhà cầm
quyền, vừa cho Ủy ban Phụ trách Cứu xét những tác phẩm của tôi. Mục tiêu
đó là sự biến đổi và đồng hóa dân tộc An Nam" (Nguyễn Sinh Duy, “Cuốn
sổ bình sinh của Trương Vĩnh Ký”, NXB Nam Sơn, Sài gòn, tháng
3,1975).
Hàng Tình: “Có quá lời không chưa rõ,
nhưng ai đó đã từng bảo: “Với việc Latin hoá chữ viết tiếng Việt,
Alexandre de Rhodes đã đặt Việt Nam tiến bước văn minh, hòa nhập cùng
nhân loại trước các dân tộc Đông Á khác 300 năm”. Không phải ngẫu nhiên
mà từ cuối thế kỷ XIX, và đầu thế kỷ XX ngay giới trí thức Nho học Việt
Nam cũng đã quyết liệt cổ suý, truyền bá chiến lược cho sự lớn mạnh của
Quốc ngữ, đẩy hệ thống chữ tượng hình, chữ Hán - Nôm vào cáo chung, để
rồi chúng ta có được một di sản ngôn ngữ/chữ Việt như ngày hôm nay”.
Tại sao Hàng Tình phải viết “có quá lời
không chưa rõ”? Rõ là “quá lời” lắm chứ. Vì ai cũng biết những lời nhận
xét trên phát xuất từ Nguyệt san MISSI [do các cha Dòng Tên (một dòng tu
với những lời thề rất thiếu tính người) người Pháp điều khiển]. Vatican
thì mở “Hội thảo” về Đắc Lộ, còn MISSI thì giật tít "Khi cho Việt Nam
các mẫu tự La Tinh, Alexandre de Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến 3
thế kỷ". Chẳng lẽ ông Hàng Tình không hiểu nổi “tính khách quan” trong
câu tục ngữ của người Việt “mẹ hát con khen” à?
Đắc Lộ là một người không thật thà, hay
phóng đại về việc làm của mình tại An Nam. Và những “bốc phét” ông ta đã
bị Yoshiharu Tsuboi lột tả trong cuốn Catholicism et Sociétés
Asiatiques, trg. 136, về "nghệ thuật" phóng đại sự việc để lừa dối chính
quyền Pháp cũng như Tòa Thánh Vatican của Rhodes:
"Vào khoảng 1650, Alexandre de Rhodes
tuyên bố rằng, người Việt Nam cải đạo theo Ca Tô giáo với nhịp độ 15000
một năm, con số mà khoảng hai mươi năm sau, những thừa sai Pháp cho rằng
đã phóng đại, vì họ chỉ thấy có độ 60.000 thay vì 200.000 tín đồ Ki Tô
như các giáo sĩ dòng Tên đã tuyên bố”.
Hàng Tình: “Suốt 20 năm gắn bó với
Việt Nam, đến và đi thầm lặng, rồi tạo ra thứ chữ Việt có kiểu ký hiệu
phổ biến như bao dân tộc châu Âu, Mỹ, Phi, Úc đó, Alexandre de Rhodes đã
có đến 6 lần bị chính quyền phong kiến Việt Nam, chúa Nguyễn lẫn chúa
Trịnh... trục xuất (nhưng ông vẫn luôn tìm cách để được quay lại). Khi
về châu Âu, ông vẫn đeo đuổi cho ngôn ngữ Việt, bỏ ra tiếp 6 năm nữa để
hoàn thành công trình ngôn ngữ ấy (bộ Từ điển Việt - Bồ - La
“Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum”, vào năm 1651, tại
Italia) cho sứ mệnh tinh thần của mình (rao giảng Phúc Âm), cùng lúc cho
văn hoá Việt, dân tộc Việt”.
Hàng Tình ngày càng lộ rõ mình là một kẻ
“Tàng Hình” trong đánh tráo khái niệm. Vì viết như vậy là không lương
thiện với lịch sử vì sẽ làm cho người đọc (ít tiếp cận thông tin về Đắc
Lộ) hiểu lầm rằng Đắc Lộ đến Việt Nam khi ấy chỉ để “tạo ra thứ chữ
Việt…”, “theo đuổi ngôn ngữ Việt”. Hàng Tình nên đọc lại lịch sử về Đắc
Lộ và xem 6 lần bị trục xuất ấy có phải do “theo đuổi ngôn ngữ Việt”
không?
Hàng Tình tìm người “bảo kê”: “Chúng
ta - dân tộc Việt Nam - mang ơn ông ấy (Alexandre de Rhodes) là một sự
thật!”. Ông Võ Văn Kiệt - vị cố Thủ tướng được dân yêu quí và
ngưỡng vọng, từng bảo thế. Những tháng ngày về hưu, ông Kiệt càng nghĩ
nhiều hơn về công lao của Alexandre de Rhodes (ông tự đặt tên Việt cho
mình là Đắc Lộ).
Và thế là ông đã mời điêu khắc gia Phạm
Văn Hạng và nhà sử học Dương Trung Quốc đến nhà ở TP.HCM để “đặt hàng”,
nhờ tạc cho được một bức tượng về Alexandre de Rhodes, mà ông bảo trước
hết cho chính ông, để ông với tư cách một người Việt tỏ lòng tri ân
người có đóng góp cho dân tộc yêu dấu mình. Nhưng rồi buộc phải trách
nhiệm hơn, ông bảo với nghệ sĩ Hạng và ông Quốc: “Đợi khi nào thuận
lợi, cố tìm cách để tượng đấy được đặt ở Thủ đô Hà Nội, chúng ta biểu
thị một sự hàm ơn, và vinh danh người có công, tỏ rõ sự quí trọng văn
hoá, khoa học...”.
Tôi không biết đây là lời khen hay chê
ông cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Vì ông Kiệt không thể “lớn lối” đại diện
dân tộc này để mang ơn một trong những kẻ đã chủ mưu dẫn binh đến cướp
nước và đồng hóa dân tộc ta được. Ông Kiệt tạc tượng, hay “cúc cung bái”
Đắc Lộ là quyền tự do cá nhân của ông ấy. Nhưng việc “Đợi khi nào
thuận lợi, cố tìm cách để tượng đấy được đặt ở Thủ đô Hà Nội, chúng ta
biểu thị một sự hàm ơn, và vinh danh người có công, tỏ rõ sự quí trọng
văn hoá, khoa học...” (nếu đúng như Hàng Tình nói) thì là một việc
làm hồ đồ, xúc phạm đến tình cảm dân tộc và máu xương đã đổ xuống vì độc
lập dân tộc của đồng bào.
Và tôi cũng không nghi ngờ gì về việc ông
Dương Trung Quốc tại sao lại a dua bàn bạc cái việc “đại sự” này, vì ông
cũng từng phát biểu: “Nếu nói cho đủ thì trong tiến trình lịch sử
của mình, Việt Nam lại còn có cơ hội tiếp cận (vì lý do chiến tranh và ý
thức hệ) với nhiều nền văn minh…” và “Chiến tranh thật khốc
liệt với nhiều tội ác và thương tích nhưng đó là một thế kỷ đủ giúp Việt
Nam bứt ra khỏi cái thế giới Trung Hoa truyền thống không chỉ về chính
trị mà quan trọng hơn là sự tiếp nhận những giá trị văn của văn hoá
phương Tây, trở thành một phần di sản và bản sắc của văn hoá Việt Nam
hiện đại”.
Đó là nhận thức “không vỏ dưa thì vỏ
dừa” về chiến tranh của ông Dương sử h(ọc). Miễn chê!
Một cái tên đường ở Tp.HCM (và chỉ nên có
ở Tp.HCM) đã là quá đủ để dành cho Alexandre de Rhodes. Khi ông Võ Văn
Kiệt còn đương chức đã “thỏa thuận” theo lời đề nghị “ngoại giao” của
quốc gia Vatican để tôn vinh cho Đắc Lộ. Việc làm này khi ấy vốn dĩ đã
là việc làm “xé rào dư luận”, nếu không muốn nói là “đi đêm”.
Người ta nghi ngờ về bộ óc của những
người “thẩm định”, vì họ đã có đủ tư cách và thẩm quyền văn hóa để làm
điều đó hay không, hay do họ bị quan (tiền) chi phối. Chỉ cần đọc kỹ
lịch sử về Đắc Lộ đủ thấy một số người đã đánh tráo sự thật nhằm đưa một
kẻ cướp nước với âm mưu đồng hóa thành "tượng đài" của dân tộc. Muốn làm
điều này nhanh gọn, không có việc “thiết thực” hơn mà mở “Hội thảo khoa
học”. “Hội” thì có, “thảo” thì không, còn “khoa học” thì vô cùng lờ mờ.
Hàng Tình: “Với Alexandre de Rhodes,
tượng ông đã được tạc xong (bằng đá hoa cương, cao 3m, rộng 2m, nặng 43
tấn) lâu rồi, đang để ở ngoại ô thị xã Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương),
nhưng vì người “bảo hộ” cho sự chào đời (và tồn tại) của nó cũng đã
khuất, nên ông Hạng lẫn ông Quốc giờ chỉ nhìn tượng ông Rhodes rồi nhìn
vào nhau (!), bởi không biết phải “đặt đâu”, và “làm sao đặt được”, dù
biết rằng động thái tri ân ấy vào những năm 1941 đã từng diễn ra (do Hội
Trí Tri và Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ người Việt ở Việt Nam thực hiện):
Một bia vinh danh Alexandre de Rhodes được đặt ngay bên trái tim Thủ đô,
ở hồ Gươm”.
Người Việt không bao giờ quên ơn những
người nước ngoài có đóng góp về văn hóa, khoa học cho dân tộc. Nhưng
những người nước ngoài đó không thể là những kẻ vận động binh đao để
tiến hành chiến tranh xâm lược mới âm mưu đồng hóa. Đó chính là thái độ
ứng xử rất phân minh của người Việt. Vì vậy Hàng Tình ví dụ Đắc Lộ với
Pasteur, A.Yersin, Calmette, Marie Curie… là một sự so sánh khập khiễng.
Năm 1941 Hội Trí Tri cùng với Hội Truyền
bá Quốc ngữ đã quyên góp để dựng một tấm bia kỷ niệm ngày sinh nhật thứ
350 của giáo sĩ Đắc Lộ ở gần bên bờ hồ Gươm trước cửa đền bà Kiệu.
Cụ Hoàng Xuân Hãn viết về Hội này như
sau: “Lần đầu nghe nói đến tên hội này, tôi lấy làm ngạc nhiên, rồi
đáp: “Không ai mời tôi cả. Vả chăng ngày nay ai mà chẳng học quốc ngữ;
thì lập hội làm gì ? Hoặc quốc ngữ đây nghĩa là tiếng ta. tiếng và văn
Việt ngữ?Lập hội với mục đích ấy cũng tốt, vì ngày nay ai cũng muốn nói
tiếng tây cho thoáng, chứ không hiểu đúng tiếng ta, đến đỗi hạng lầm
hiểu rằng ''yếu điểm” là điểm yếu, ngày càng nhiều”. Cụ để tôi
nói dài mới ngắt lời, rồi đáp: “Truyền bá quốc ngữ là truyền bá cách
viết tiếng ta bằng những chữ la-tinh A, B, C” (Nhớ lại hội Truyền
bá quốc ngữ… - Báo Đoàn Kết tháng 9-10-1988).
Hành động lập bia của họ ở thời điểm Pháp
đang đô hộ có thể chưa có nhiều tiếp cận chính xác tư liệu để đánh giá
về sự thật Đắc Lộ. Nhưng phần nào động cơ kỷ niệm của họ là trong sáng
vì họ sớm nhận ra “ngày nay ai cũng muốn nói tiếng Tây cho thoáng”.
Mục đích cuối cùng của các cha đạo là người bản xứ sẽ nói và viết tiếng
Tây, chứ không phải thứ chứ quốc ngữ chưa hoàn thiện như ở thời Đắc Lộ.
Hàng Tình: “Tượng đài Nguyễn Trãi
sừng sững ở Québec (Canada), hay 18 danh nhân Việt Nam được đặt tên
đường ở Houston (Texas, Hoa Kỳ)... là thông điệp nhắc nhở về những giá
trị đóng góp cho hạnh phúc của con người được chấp nhận và thừa nhận
luôn không biên giới, huống gì “nhân vật” Alexandre de Rhodes, người
hằng ngày đồng hành cùng chúng ta, đóng góp cho sự phát triển, văn minh
của chúng ta. Hình như chúng ta đang mắc nợ một tượng đài, cùng dăm ba
con đường phố hiền hoà mang tên “người cho ta cái chữ” ấy”.
Càng so sánh càng thấy Hàng Tình rất ngu
ngơ về lịch sử. Nguyễn Trãi là một danh nhân văn hóa thế giới, ông chẳng
có âm mưu gì với nước Canada. Dĩ nhiên, về ngoại giao, các nước từng đặt
quan hệ với nhau, có những ứng xử như vậy là bình thường. Ông Lê Nin
chẳng có ngày nào ở Việt Nam mà Việt Nam vẫn có tượng đài của ông ta.
Những tượng đài người nước ngoài được xây dựng để bày tỏ sự tôn trọng và
gắn kết tình hữu nghị. Nếu những nước đó từng xây dựng tượng đài của
những kẻ dẫn quân vào xâm lược đất nước họ, thì Hàng Tình (Tàng Hình)
hãy đem ra so sánh, bằng không chính việc làm này, Hàng Tình đã miệt thị
những danh nhân văn hóa của người Việt.
Những người Việt (đa số là Phật tử) sẽ
nghĩ gì, nếu tượng đài Đắc Lộ xuất hiện ở Hồ Gươm (Hà Nội) - một mảnh
đất thiêng vốn dĩ đề cao những giá trị văn hóa hòa bình. Ý nghĩa của hồ
Hoàn Kiếm không chỉ bằng hành động trả vật dụng gươm thần mà còn phải
trả cả cái gươm trong bụng. Đắc Lộ đã không ngừng miệt mài rèn gươm
bụng, để “nhào nặn” chữ quốc ngữ dùng làm bao để bọc nó. Và chúng ta
không thể tưởng tượng được rằng mỗi khi đi qua "tượng đài" Đắc Lộ chúng
ta nghĩ về mảnh đất Thăng Long mà biết bao chùa chiền di sản bị thực dân
Pháp kết hợp với các cha đạo nước ngoài tàn phá.
Và người Phật tử sẽ nghĩ gì khi một cha
đạo như Đắc Lộ từng nói rất “văn hóa” như sau: “Bởi Tam giáo này,
như nguồn độc, nhiều sự dối khác. Song le bắt mỗi sự dối ấy chẳng có làm
chi, vì chưng biết là bởi đâu mà ra, cho hay tỏ tường là dối thì vừa.
Như thế có chém cây nào độc cho ngã, các ngành cây ấy tự nhiên cũng ngã
với. Vậy thì ta làm cho Thích Ca là thằng hay dối người ta, ngã xuống,
...”. (Phép giảng tám ngày).
Ôi! Có lẽ nào sẽ có một “tượng đài chữ
viết” cho những ngôn ngữ “thiêng liêng” như vậy sao?
Trong khi thiền sư Vạn Hạnh với tầm nhìn
xa rộng cố vấn và thuyết phục vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long để tạo
kế lâu dài cho dân tộc còn chưa có một tượng đài xứng tầm ở Thủ đô thì
Đắc Lộ đang được người ta "rục rịch cổ vũ" kéo ra đứng ở Thăng Long.
Trong khi hai di sản nổi tiếng của Phật giáo là chùa Báo Thiên và Báo Ân
tại khu vực Hồ Gươm còn chưa được phục dựng thì Đắc Lộ (bằng đá hoa
cương) lại được giật tít trên Tia Sáng để dọn đường đến đó đứng.
Năm 1624, Đắc Lộ đến đàng Ngoài, đánh dấu
sự khởi đầu của khối liên minh thực dân đế quốc Pháp-Vatican. Sau 10 năm
hoạt động ở Việt Nam, Đắc Lộ đã có đầy đủ bản đồ Việt Nam, có một bản
báo cáo tỉ mỉ về tình hình Việt Nam đệ trình cho Giáo hoàng ở Vatican và
đồng thời đệ trình cho vua Louis XIV của Pháp vào lúc bấy giờ, kèm theo
bản báo cáo đề nghị "Đánh chiếm Việt Nam".
“Tượng đài” cho con người này? Đây quả là
một huyễn thuật “hô biến” rẻ tiền mà một số người đã và đang cố tình
dựng ra.
Theo: Blog
Sen Việt
http://phattuvietnam.net/3/6897.html
http://www.buddhismtoday.com/viet/khac/tuongdai.htm