Trang tiếng Anh

Đạo Phật Ngày Nay 

Trang tiếng Việt   

   

...... ... ..  . ..  .  .
LƯỢC THUẬT HÀNH TRẠNG

HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂM

Dịch giả: Ni chúng Tự Viện Vĩnh Minh Lâm Đồng
Hiệu đính:    Giáo sư. Phạm Phú Thành
                     Đại Đức. Thích Giải Hiền

Phật lịch. 2547 – Dương lịch. 2003


NHÂN DUYÊN IN SÁCH

 

            Chùa Thừa Thiên Thiền Tự ở Thành Phố Phổ Thành, huyện Đài Bắc cùng với tên tuổi của Ngài Quảng Khâm từ lâu đã đi vào lòng người Phật tử và trở thành niềm tự hào của Phật giáo Đài Loan.

 

            Ngài Quảng Khâm xuất gia tu học tại chùa Thừa Thiên, Tuyền Châu, Phúc Kiến, Trung Quốc. Sau đó, Ngài đến Đài Loan hoằng pháp và xây dựng chùa Thừa Thiên Thiền Tự. Ngài được tôn như Quốc Sư của Đài Loan, tổng thống Tưởng Kinh Quốc mỗi khi gặp việc lớn của quốc gia thường đến cầu thỉnh ý Ngài. Ngài nổi tiếng về hạnh tu đầu đà, sáu mươi năm Ngài không ăn đồ nấu, tòan ăn hoa quả và không hề đặt lưng xuống giường thường ngồi thiền tọa. Ngài viên tịch trong tư thế thiền tọa.

 

            Chùa Thừa Thiên Thiền Tự cho đến nay vẫn giữ hạnh tu đầu đà, chư tăng ni ở chùa sống cuộc sống thanh bần, mặc dầu Phật tử và du khách đến chùa rất đông, nguồn thu nhập rất lớn nhưng cuộc sống đầu đà của chư tăng vẫn không thay đổi. Sau khi Ngài Quảng Khâm viên tịch đệ tử Ngài là Hòa Thượng Truyền Hối lên kế thế. Trong thời gian Ngài Truyền Hối kế thế trụ trì Ngài đã đem số tiền mà thập phương thiện tín cúng dường cho chùa Thừa Thiên Thiền Tự đi giúp xây dựng các Phật học viện và cơ sở hoằng pháp khác ở Đài Loan mà đặc biệt là những cơ sở này không phải của Ngài và không thuộc hệ thống của Thừa Thiên Thiền Tự, chỉ cần nhưng nơi ấy yêu cầu là Ngài đều sẳn lòng giúp tất cả nguồn tài chánh, điều này giúp chúng ta thấy được tâm hạnh Bồ tát của Ngài. Trước khi Ngài viên tịch, Ngài bảo đệ tử tổng kết số tiền mà trong mấy chục năm Ngài làm trụ trì thập phương Phật tử cúng riêng cho Ngài tất cả được năm trăm triệu Đài tệ (khoảng hai mươi tỷ đồng Việt Nam) Ngài phân làm năm phần cúng dường cho bốn cơ sở Phật giáo là: Trường đại học Phật Quang của Ngài Tinh Vân Phật Quang Sơn, trường đại học Pháp Cổ Sơn của Ngài Thánh Nghiêm, trường đại học Huyền Trang của Ngài Liểu Trung và công trình hy vọng xây dựng sáu mươi ngôi trường trung tiểu học do hội Từ Tế của Ni Sư Chứng Nghiêm đảm trách mỗi đơn vị một trăm triệu Đài tệ, còn lại  một trăm triệu Đài tệ Ngài cúng cho năm tổ chức từ thiện của chính phủ và các tôn giáo khác.

 

            Sau khi Ngài Truyền Hối viên tịch đệ tử là Thượng Tọa Đạo Cầu lên kế vị trụ trì, vẫn tuân giữ đạo phong và thanh quy của chùa tiếp tục tu hạnh đầu đà. Mặc dầu là trụ trì một chùa lớn Thượng Tọa Đạo Cầu vẫn rất giản dị mộc mạc và Ngài không bao giờ  bỏ thời khóa tụng kinh ở chùa, khi tiếp khách dù là vị khách như thế nào cứ đến 3h45 chiều là Ngài nói với khách hoan hỷ ra về hay lên chùa làm lễ vì sắp đến giờ Ngài phải đi công phu chiều với đại chúng rồi. Việc tuân thủ giờ giấc của thời khóa tu tập hằng ngày của Thượng Tọa trụ trì như vậy cũng đủ cho chúng ta thấy được đạo phong của chùa Thừa Thiên Thiền Tự như thế nào.

 

            Trong thời gian du học ở Đài Loan, tôi được quen Phật tử Triệu Sâm Phát và vợ là Lữ Tá Trí. Hai vị là hộ pháp của chùa Thừa Thiên Thiền Tự. Mọi giấy tờ nhà đất của chùa đều do vợ chồng Phật tử Triệu Sâm Phát đứng ra giải quyết. Trong chùa mỗi khi có việc quan trọng đều gọi và giao cho vợ chồng Phật tử đứng ra lo liệu. Khi Ngài Truyền Hối sắp viên tịch Ngài cho gọi hai vợ chồng Phật tử Triệu Sâm Phát thay Ngài chuyển số tiền của Ngài cúng dường đến hội Từ Tế nên vợ chồng Phật tử rất được chùa tin cẩn.

 

            Trong một lần về Việt Nam nghỉ hè và lo trai đàn Chẩn tế ở chùa Linh Ẩn, các chư Ni của Vĩnh Minh Tự Viện có thưa với tôi việc dịch quyển (Quảng Công Hành Trạng) và muốn in nhưng không có kinh phí nhờ tôi tìm cách giúp cho quý vị đạt thành sở nguyện tôi liền nghĩ ngay đến vợ chồng Phật tử Triệu Sâm Phát và Lữ Tá Trí mà tôi quen, nên nói quý vị viết liền cho tôi ít chữ để khi xong lễ sang lại Đài Loan tôi sẽ tìm cách giúp quý vị.

 

            Sau khi về lại Đài Loan tôi đã nhờ Phật tử Triệu Sâm Phát đưa đến chùa Thừa Thiên Thiền Tự tổng cộng ba lần để đảnh lễ Thượng Tọa Đạo Cầu cùng ban quản trị của chùa để xin phép cho quý cô được dịch và in quyển sách trên ra Việt văn, Thượng Tọa Đạo Cầu rất hoan hỷ và xin ban quản trị ủng hộ kinh phí một trăm năm mươi lăm ngàn Đài tệ để in sách. Được phép và được tiền rồi tôi cùng thầy Phạm Phú Thành nổ lực sửa bản dịch (theo khả năng của chúng tôi) để không phụ lòng của Thượng Tọa Đạo Cầu, ban quản trị của chùa cùng quý Phật tử Triệu Sâm Phát và Lữ Tá Trí đã dốc lòng giúp đỡ.

 

            Nay công việc in sách sắp đi vào giai đọan cuối. Tôi kính ghi đôi dòng nhân duyên này để tỏ lòng tri ân cùng chư Tôn đức, quý Phật tử và cần cầu chư Tôn thức giả chỉ giáo nhiều cho lần tái bản sau.

 
Đạt lạt, Vu Lan năm 2003
Thích Giải Hiền khế thủ

 


THƯ ỦY QUYỀN

Về việc: Dịch ra Việt văn và Ấn tống sách “Quảng Công Thượng Nhân Sự Tích”

 

1.      Nay chấp nhận cho Đại Đức Thích Giải Hiền cùng quý sư cô (tất cả 5 vị) được tòan quyền phiên dịch “ Quảng Công Thượng Nhân Sự Tích” (phụ khai thị lục hành trì ngữ lục) do Thừa Thiên Thiền Tự ấn bản ra Việt văn.

 

2.      Nay chấp nhận cho Đại Đức Thích Giải Hiền cùng quý sư cô (tất cả 5 vị) ấn tống 5.000 quyển “ Quảng Công Thượng Nhân Sự Tích” bằng Việt văn. Đồng thời hoan nghênh việc phiên dịch ấn tống lưu truyền sách trên.

 

3.      Kinh phí ấn tống 5.000 quyển bản Việt văn là 30 Đài tệ/1 cuốn. Tổng cộng 150.000 Đài tệ (một trăm năm mươi nghìn Đài tệ) do Thừa Thiên Thiền Tự cúng dường.

 
Trung Hoa Dân Quốc năm thứ 91
 Ngày 28 tháng 10 năm 2002

  

 

Bên được ủy quyền                                                    Bên lập thư ủy quyền
 
Việt Nam Minh Đức Từ Thiện                              Phật Giáo Tài Đòan Pháp Nhân
 
Sự Nghiệp Cơ Kim Hội                                             Thừa Thiên Thiền Tự Trụ Trì
 
THÍCH GIẢI HIỀN                                                   THÍCH ĐẠO CẦU
 
(Đã ký)                                                            (Đã ký và đóng dấu)

 


Biên tập thuyết minh

 

            Vào năm 1997, khi chỉnh lý các bài ghi chép cũ, chúng tôi tìm thấy một số bài ghi lại lời giảng của Ngài Quảng Khâm tại Pháp Hội tháng 7 năm 1974. Cùng thời gian này, thấy xuất hiện một phần tư liệu do một vị đệ tử của Ngài lưu giữ. Hai nhóm tư liệu được đem kết tập thành cuốn “ Quảng Khâm Thượng Nhân khai thị” (Những lời giảng dạy của Ngài Quảng Khâm). Xét về thời gian thì phần tư liệu chúng tôi độc thấy sau lại có trước, nhưng lúc bấy giờ nhân duyên chưa hội đủ để  có thể phổ biến đến các vị độc giả. Nay xin theo thứ tự thời gian đưa phần tư liệu này lên phía trước của ấn bản đầu tiên, và sách trở thành “ Bản có bổ sung”.

           

Tập sách viết về cuộc đời của Ngài Quảng Khâm xuất bản lần đầu tiên vào tháng 5 năm 1986 sau khi Ngài viên tịch ít lâu. Tập sách này tập hợp những bài viết về Ngài được đăng tải trên các báo và tạp chí, lúc đó ấn tống 5000 bản. Sau khi xuất bản phát hiện thấy nhiều sai sót, nên khi tái bản đã cho đính chính và sửa chữa những sai sót ấy.

           

Sau lần xuất bản đầu tiên chưa đầy vài tháng, độc giả đã nhanh chóng thỉnh hết; vì vậy vào tháng 9 năm đó sách lạI được tái bản 5000 cuốn. Lần đầu và lần thứ hai xuất bản, sách đều gồm 32 bài viết; lần thứ ba sửa còn 25 bài. Nội dung và văn chương của lần xuất bản đầu và lần thứ hai hòan tòan giống nhau; nhưng lần thứ hai, ngòai việc sửa chữa một số sai sót của lần đầu, các bài viết còn được sắp xếp theo thứ tự thời gian; đến lần xuất bản thứ ba mới thêm vào phần đối thọai giữa Hòa Thượng Quảng Khâm và Hòang Thượng Tuyên Hóa, và thiên cuốn sách nói về “ Những điều linh hiển”.

           

Về những hình ảnh tư liệu, có thêm ảnh chụp điện Tam Thánh của chùa Thừa Thiên trước khi trùng tu và ảnh nhà kỷ niệm Ngài Quảng Khâm. Lại có các ảnh cũ về đời sống sinh họat của Ngài, cùng với một số hình ảnh hai ngày trước khi Ngài viên tịch.

           

Tháng 2 năm 1992, sách lại thêm bài “ Niệm Nam - Mô – A – Di - Phập, tức là Tổng tụng”.

           

Tập sách viết về hành trạng (tiểu sử) này đã được xuất bản 3 lần, mỗi lần ấn tống 5000 cuốn, đều được độc giả thỉnh hết.

           

Đến lần xuất bản thứ tư này, có người đề nghị nên có lời giải thích về những điều sửa đổi của ba lần trước cho độc giả hiểu nhưng vì lúc đó công việc ở chùa quá bận rộn nên không kịp cải chính.

 

Do vậy mà nay chúng tôi đặc biệt xin có đôi lời thuyết minh giải bày ở đây.

 

                                                                                                            Ban biên tập cẩn chí

 


MỤC LỤC

 

Nhân duyên in sách

Thư ủy quyền (bản tiếng Hoa)

Thư ủy quyền (bản tiếng Việt)

Biên tập thuyết minh

 

1.      Lược thuật Hành trạng Hòa thượng Quảng Khâm .................................... Lâm Giác Phi

2.      Những lời khai thị của Hòa thượng Quảng Khâm...................................... Lâm Giác Phi

3.      Tôi có nhân duyên với Hòa thượng Quảng Khâm ...................................... Lâm Giác Phi

4.      Một đọan nhân duyên giữa tôi và Bồ Tát Quảng Khâm............................. Chu Tuyên Đức

5.      Đối thọai giữa Ngài Quảng Khâm và Pháp sư Tuyên Hóa........................ Giang Khải Siêu

6.      Bái kiến và phỏng vấn Hòa thượng Quảng Khâm...................................... Chương Khắc Phạm

7.      Pháp sư trái cây” không nơi nào không tự tại........................................... Vân Lâm

8.      Hòa thượng Quảng Khâm niệm Phật tam - muội........................................ Vân Lâm

9.      Hồi ký về Hòa thượng Quảng Khâm........................................................... Chương Khắc Phạm

10.  Hòa thượng Quảng Khâm đã nói như vầy............................................... Chương Khắc Phạm

11.  Hòa thượng khai đàn truyền giới, Đại chúng nao nức vui mừng....................  Hùynh Kiến Hưng

12.  Ngọn đèn mãi mãi chiếu sáng....................................................................... Xã luận của Tuần san            TỪ ÂN

13.  Tưởng niệm các bậc Thiện tri thức Cảm thán Hòa thượng Quảng Khâm Niết bàn........ Thích Khai Chứng

14.  TÁN (xứng vào lức cử hành đại lễ )............................................................ Niệm Nam – mô A – Di – Đà Phật là

“Tổng tụng”...................................................................................... Quách Huệ Trân

15.  THẦN DỊ THIÊN: Pháp thân Hòa thượng Quảng Khâm thị hiện linh hiển.................................... Phùng Phùng

17. Xá - lợI linh thiêng của Hòa thượng Quảng Khâm..................................... Đại Hoang

 

*** Chú thích các hình ảnh tư liệu ***

 


Lược thuật HÀNH TRẠNG

HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂM

 

            Hòa thượng sinh ngày 26 tháng 10, năm Quang Tự thứ 18, cuối đời Nhà Thanh. Ngài là con gia đình họ Hoàng ở huyện Huệ An, tỉnh Phúc Kiến. Năm lên bốn tuổi, vì gia đình nghèo khó, anh của Ngài không có tiền cưới vợ, cha mẹ đem Ngài bán cho một gia đình họ Lý ở ngoại thành phía Nam thuộc huyện Tấn Giang để làm con nuôi.

 

            Cha nuôi ngài tên Lý Thọ, mẹ nuôi tên Lâm Thái. Từ thuở nhỏ Ngài yếu đuối và nhiều bệnh tật, nhưng huệ căn đầy đủ, theo mẹ tin phật, ăn chay.

 

            Khi Ngài vừa lớn lên cha mẹ nuôi lần lượt qua đời để lại ruộng vườn, bà con rắp tâm chiếm đoạt. Ngài cảm nhận sâu sắc cuộc đời là vô thường khởi tâm xuất gia, đem ruộng đất chia cho bà con, rồi đến xin vào tu trong chùa Thừa Thiên ở Tuyền Châu.

 

Vị trụ trì chùa Thừa Thiên là Hòa Thượng thượng Chuyển hạ Trần bảo Ngài quy y khổ hạnh với Pháp sư thượng Thụy hạ Phương. Pháp sư giao Ngài làm các công việc bên ngoài như : nhổ cỏ, trồng rau… Sau đó, do nhân duyên đặc biệt Ngài có đến Nam Dương ( Inđonêxia) ở nhiều năm. Khi trở về chùa Thừa Thiên Ngài đã 36 tuổi, lúc bấy giờ mới được Pháp sư thượng Thụy hạ Phương xuống tóc, đặt Pháp danh là Chiếu Kính, tự là Quảng Khâm.

 

 Sau khi xuất gia, Ngài tâm tu khổ hạnh, ăn những món mà người khó ăn, làm những việc người khó làm, thường ngồi không nằm, nhất tâm niệm Phật. Năm 1933, Ngài đến chùa Từ Thọ Thiền Tự ở Nang Sơn, huyện Bồ Điền yết kiến Hòa thượng Diệu Nghĩa để cầu giới, lúc ấy Ngài đã 42 tuổi. Sau khi thọ giới trở về, Ngài quyết chí tinh tấn ẩn tu. Được sự đồng ý của Hòa Thượng thượng Chuyển hạ Trần, Ngài chỉ mang theo áo quần, vật dụng đơn sơ và hơn 10 cân gạo ( một cân = 600gam ) đến núi Thanh Nguyên phía Bắc thành Tuyền Châu, tìm một động đá giữa sườn núi làm chỗ trú thân, ở trong động tọa thiền niệm Phật. Khi lương thực mang theo cạn hết, Ngài ăn củ rễ cây và trái rừng cho đỡ đói. Trong núi có nhiều cọp và khỉ, lâu ngày người và thú sống với nhau không còn sợ sệt, lại có vượn khỉ dâng trái cây, cọp dữ đến quy y. Từ đó mỹ hiệu “Phục hổ sư” ( Thầy hàng phục cọp ) lan truyền khắp nơi.

 

Ngài thường nhập định có khi đến vài tháng không ăn, không cử động, thậm chí hơi thở cũng không còn. Mọi người lầm tưởng Ngài đã viên tịch, nhiều lần xin hòa thượng trù trì chuẩn bị hỏa táng Ngài.

 

  Lúc bấy giờ Ngài Hoằng Nhất Đại Sư – một vị cao tăng Luật tông – ở chùa Phổ Tuế huyện Vĩnh Xuân, nghe tin vội vàng đến chùa Thừa Thiên, rồi cùng với Đại lão Hòa thượng thượng hạ Chuyển hạ Trần và vài người nữa lên núi xem xét, đến nơi mới biết Ngài còn ở trong Định, mọi người vô cùng tán thán. Đại sư Hoằng Nhất búng ngón tay ba lần thỉnh Ngài xuất định.

 

Ngày tháng trôi mau, thấm thoát đã 13 năm. Vào năm Aát Dậu (1945), Ngài xuống núi trở về chùaThừa Thiên; mùa thu năm sau Ngài đến Nam Phổ Đà – Hạ Môn, vào ở trong động đá núi phía sau để ngày đêm lễ Phật. Năm Đinh Hợi (1947) Ngài 56 tuổi, ngày rằm tháng sáu, Ngài từ Hạ Môn lên tàu Anh vượt biển sang Đài Loan, trưa ngày 16 cập bến Cơ Long.

 

Lúc đầu Ngài ở tạm trong các chùa Cực Lạc, Linh Tuyền, Tối Thắng, đầu tháng 7 dời sang động núi Chi Sơn ở Đài Bắc. Sau Trung Thu Ngài lại đến tạm trú trong một ngôi nhà trống xây theo kiểu Nhật Bản nằm giữa sườn núi bờ nam thuộc Điếu Kiều – Tân Điếm. Lúc bấy giờ Ngài cũng thường lui tới chùa Pháp Hoa – Đài Bắc, nơi Ngài đã siêu độ hồn ma người Nhật. Mùa xuân năm Mậu tý (1948) Ngài khoét một động đá nơi vách núi phía sau đường Tân Điếm và gọi nó là hang núi Quảng Minh (chùa Quảng Minh ngày nay). Đến năm Tân Mão (1951) Ngài tạc tượng Phật A-Di-Đà lớn trên vách đá phía bên phải động, mở đầu cho phong cách tạc tượng Phật trên đá, ở Đài Loan.

 

Tháng 11 cùng năm (1951), nghe nói có động cổ thiên nhiên trên núi Thành Phước nằm giữa Thổ Thành và Tam Hiệp, Ngày liền dẫn bốn đệ tử, bám dây rừng leo lên. Quả nhiên gặp một thạch động rất lớn, cao hơn hai trượng, rộng vài trượng, sậu khoảng hai trượng. Ngài ở một mình trong động ngay đêm ấy. Động quay về hướng đông, mặt trời mặt trăng khi mới mọc đều chiếu ánh sáng vào động, do vậy Ngài đặt tên là động Nhật Nguyệt. Trên đỉnh động có dòng suối, nước rất trong, uống vào thấy ngọt ngào, tinh thần sảng khoái.

 

Từ đó Ngài trở lại cuộc sống ẩn cư.

 

Tháng 5 năm sau (1952), Ngài cất thêm ba gian nhà ván, bên ngoài động thờ tượng Bồ-Tát Địa Tạng. Ngài ở đó được 3 năm, đồng thời lại cất thêm một gian nhà tranh trên đỉnh động để độ đệ tử cùng tu. Tháng 2 năm 1953, Ngài lại lên đỉnh núi cất một am nhỏ trước một tảng đá lớn để ở.

Tháng 3 năm Aát Mùi (1955), Phật tử ở Bản Kiều mua vùng đất núi Hỏa Sơn ở Thổ Thành huyện Đài Bắc cúng cho Ngài. Nay chính là chùa Thừa Thiên núi Thanh Nguyên, Thành Phố Thổ Thành, huyện Đài Bắc – Đài Loan).

 

Vùng đất này, trước kia vốn là rừng tre ít người lui tới. Ngài cùng đệ tử đốn tre làm giường, trải cỏ mịn lên trên để ngồi thiền. Ngài nói với các đệ tử: “Thầy ngồi đây rất tốt, các con về được rồi”. Đến giữa tháng 5 năm ấy, Ngày xây một gian nhà ngói để thờ Phật. Năm sau Ngài trở về chùa Quảng Chiếu ở Tân Điếm.

 

Cuối năm 1958 (năm Mậu Tuất), Ngài trở về Hỏa Sơn, năm sau (năm Kỷ Hợi) lại cất thêm vài gian nhà tranh. Đến tháng 4 năm 1960 (năm Canh Tý) mới xây dựng Đại Hùng Bảo Điện để nhớ về Tổ đình ( ở Trung Quốc) Ngài đặt tên là Thừa Thiên Thiền Tự. Núi Hỏa Sơn thì gọi là núi Thanh Nguyên. Năm 1962 Ngài xây dựng Điện Tam Thánh.

 

Năm 1963 (Năm Quý Mão), Ngài 72 tuổi, thể theo lời của Phật tử, Ngài đến Thiên Tường – Hoa Liên ở vài tháng giúp xây chùa Tường Đức ( nay là tháp Thiên phong, tức là am tranh mà Ngài ngồi thiền xưa kia). Sau lại chấp nhận lời thỉnh cầu của những đệ tử ở miền trung thỉnh Ngài đến Nam Liêu núi Long Tỉnh-Đài Trung sáng lập chùa Quảng Long. Năm 1964 ( năm Giáp Thìn) Ngài trở về chùa Thừa Thiên ở Thổ Thành, cuối năm đó Ngài dựng cổng chùa, sửa lều tranh lại thành phương trượng xây bằng bê-tông, kế tiếp vào tháng 9 năm 1965 xây trai đường và nhà trù… Chùa Thừa Thiên, bước đầu kể như được hoàn tất.

 

Ban đầu chùa Thừa Thiên làm bằng gạch ngói, nhưng xây cất vội vàng cho xong, lâu ngày nền đất lún xuống, tường vách bị nứt nẻ, do vậy mà vào mùa xuân năm 1976 bắt đầu xây cất lại. Đầu tiên liêu phòng của chúng nữ trước điện Tam Thánh được xây lại thành lầu hai tầng bằng bê-tông cốt sắt. Mùa thu năm sau, mở núi ban đất, tháo dở các công trình xây dựng cũ: điện Tam Thánh, trai đường, nhà bếp, Đại Hùng Bảo Điện, liêu phòng chúng nam và phương trượng. Mùa xuân năm 1978, trên nền Đại Hùng Bảo Điện cũ xây điện Tam Thánh và liêu pjòng hai tầng, rồi dựa theo thế đất núi xây Tổ Đường; chỗ trai đường cũ cất lại trai đường hai tầng và nhả bếp. Năm 1983, đặt móng Lầu Đại Bi bên triền núi phải, hiện nay cấu trúc Lầu Đại Bi sắp hoàn thành.

 

Năm 1969 Ngày lại xây dựng chùađộng Quảng Thừa ở bên phải phía sau nhà hành chánh thị trấn Thổ Thành.

 

Năm 1978, tại nơi đây xây tháp Hoa Tạng, kế đến là Đại Hùng Bảo Điện, hai dãy thiền phòng, tầng hầm dưới mặt đất, tàng kinh các, điện La Hán, giảng đường, thiền phòng trên và dưới lầu lần lượt được hoàn thành. Sau lại lợp lại Điện Địa Tạng hoàn thành mới như ngày nay. Công trình thi công kiến trúc chùa động Quảng Thừa do Pháp sư Truyền Bân chủ trì.

 

Tháng 9 năm 1982, Ngài phái người đệ tử từng theo Ngài trên dưới 10 năm là pháp sư Truyền Văn đến thôn Bảo Lai, hương Lục Quy – huyện Cao Hùng xây dựng chùa Diệu Thông. Đến nay Đại Hùng Bảo Điện, Ngũ Quán đường, Niệm phật đường, liêu phòng chúng nữ đều đã cất xong. “Linh sơn bảo tháp” sau này thờ linh cốt Ngài cũng đang bắt đầu thi công. Tháng 7 năm 1984 Ngài đến chùa này, sang tháng 10 năm 1985 mở Đại Giới Đàn, giới tử khắp nơi quy tụ về rất đông, trên mấy ngàn người; đồng thời Ngài mở Pháp Hội “Thủy Lục” phổ độ chúng sanh, trang nghiêm chưa từng thấy.

 

Ngài có nếp sống mộc mạc, bình dị, khiêm cung hòa ái, tuy đã gần trăm tuổi mà đi không dùng gậy, không cần người dìu đỡ, thân thể dẹ dàng rắn chắc. Ngài thường ngồi mà không nằm, có khi ngồi ngoài thất, giữa trời hoặc dưới mái hiên. Từ năm 78 tuổi Ngài đổi dùng thức ăn lỏng.

 

Cuối năm 1985, Ngài lấy lý do, trong coi công việc xây lầu Đại Bi chùa Thừa Thiên nên Ngài muốn trở về Đài Bắc. Ngày 25 Tháng 12 âm lịch, pháp sư Truyền Hối xuống miền Nam. Ngày 26 thỉnh Ngày về chùa Thừa Thiên. Các phật tử miền Bắc nghe tin, từng đoàn đến thăm viếng Ngài.

 

Sáng sớm mồng một Tết, Ngài triệu tập các đệ tử có trọng trách ở các phân viện cùng đại chúng chùa Thừa Thiên đến để dặn dò cẩn thận, đồng thời nói về việc hỏa táng sau khi Ngài viên tịch: linh cốt sẻ chia làm ba phần, để tại các chùa Thừa Thiên, chùa Diệu Thông và chùa động Quảng Thừa. Cơm sáng xong, Ngài tỏ ý muốn trở về chùa Diệu Thông, đại chúng thấy ý Ngài đã quyết không dám giữ lại, liền đó đưa Ngài về miền Nam.

 

Về đến chùa Diệu Thông, Ngài niệm Phật liên tục cả đêm lẫn ngày, có khi tự gõ mõ và dạy đệ tử cùng niệm. Đến ngày mùng 5, mắt Ngày trong sáng, định tĩnh an tường, không có vẻ gì khác lạ. Khoảng hai giờ chiều, bất chợt Ngài nói với đại chúng : “ không đến cũng không đi, chẳng có việc gì”. Ngài quay sang các đệ tử, gật đầu mĩm cười rồi an tọa nhắm mắt. Một lát sau mọi người thấy Ngài bất động, đến xem kỹ mới hay Ngài đã an lành viên tịch trong tiếng niệm Phật của đại chúng.

 

         Cả một đời Ngài ẩn tu khổ hạnh, an bần lạc đạo, ý chí kiên cường, tâm hồn chất phác, trí tuệ khai thông, cuối cùng Ngài đã giác ngộ hoàn toàn. Khi đến Đài Loan, Ngài rộng độ cả hai cõi âm dương, cầm thú quy phục, an vui với thiền, không dùng thức ăn nấu chín. Trãi qua nữa đời người, Ngài là bậc mô phạm thể hiện công đức tu hành, thực hành đúng khuôn mẫu của những bậc tu khổ hạnh đầu đà, thật đáng tán tụng như các bậc Cổ Đức. Tiếc rằng chúng sanh phước mỏng nghiệp dày, chưa được hưởng những lời dạy dỗ của Ngài mà Ngài đã ra đi. Biết bao nhiêu người đốt hương khấn nguyện cầu mong Ngài không xả ly bi nguyện, trở lại lèo lái thuyền từ, rộng độ quần mê, đưa chúng sanh sang bờ giải thoát, đồng thành tựu Chánh Giác.

 
Quảng Khâm Lão Hòa Thượng Viên Tịch Tán Tụng Ủy Viên Hội
(Ban tang lễ, lễ tang Đại Lão Hòa Thượng thượng Quảng hạ Khâm)

 

 

********

Trung Hoa Dân Quốc năm 1975, ngày 28 tháng 2

 

 Hòa Thượng trụ tại chùa Thừa Thiên Thiền Tự từ tháng ba năm 1955 đến tháng bảy năm 1984 thì về ở tại chùa Diệu Thông tổng cộng hơn 30 năm. Mùa xuân năm 1984 chùa Diệu Thông bắt đầu được xây dựng, sau khi dự Pháp Hội Đại Bi tháng 2 âm lịch xong, trước khi đi Ngài cho biết cứ mỗi tháng vào dịp Pháp Hội Đại Bi Ngài sẽ trở về. Như thế là mỗi tháng Ngài đều chấn tích giữa hai miền Bắc Nam Đài Bắc và Cao Hùng. Đến kỳ Pháp Hội Đại Bi tháng năm, khi Ngài trở về gặp lúc miền Bắc Đài Loan bị nạn lụt “Ngày 03 tháng 6” rất lớn đường lên chùa Thừa Thiên ngập nước đến hông, xe cộ không lưu thông được, tín chúng tham gia Pháp hội Đại Bi chỉ có sáu bảy người; từ đó v? sau Pháp Hội Đại Bi chùa Thừa Thiên Ngài không về dự nữa. Tháng bảy âm lịch năm ấy, chùa Thừa Thiên lần đầu tổ chức Pháp Hội Địa Tạng, Ngài lại trở về núi Thanh Nguyên, nhưng chưa kịp đợi đến ngày Pháp Hội hoàn mãn thì vào trung tuần tháng ấy Ngài lại phải trở về chùa Diệu Thông. Cho mãi đến tháng 10, nhân dịp Sinh nhật 93 tuổi của Ngài, Ngài lại trở về chùa Thừa Thiên dự Lễ Chúc Thọ, trong tuần Phật thất chúc thọ Ngài tuyên bố với chúng đệ tử rằng năm tới địa điểm tổ chức truyền giới dời về chùa Diệu Thông.

( Phụ lục về của ban biên tập)

 

 


 

  NHỮNG LỜI KHAI THỊ CỦA HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂM

 

Ngày 6 tháng 2 năm 1973, khi đến viếng chùa Đại Tiên, chúng tôi ghi lại cuộc pháp đàm giữa Hoà thượng Quảng Khâm [ lời in chữ  nghiêng ] và Hoà thượng Khai Sâm .

         Hoà thượng Khai Sâm :

“ Thiện sanh thọ hạ văn thuỷ âm

Cổ kim thắng cảnh hiện mục tiền

Đắc ý vong ưu vô giá bảo

Bổn trân phi Phật diệt phi Tâm”

            Tạm dịch ý :

“ Lành thay sống chốn lâm tuyền,

Suối reo thông gọi cõi thiền là đây.

Cổ kim thắng cảnh nơi này,

Hiện ra trước mắt vẻ đầy thiên nhiên.

Bảo vật vô giá hiện tiền,

Thoả lòng vứt bỏ ưu phiền nơi đây.

Bảo vật vốn chẳng phơi bày,

Chẳng tâm chẳng Phật, vật này vốn không ”.

    Hoà thượng Quảng Khâm :

-         Không cần tiền mới có tiền

-         Làm người không nhiễm trần.

-         Ăn, mặc, ở phải buông bỏ mới thoát ly sanh tử.

-         Ý khởi là sanh tử,

Tha hương gặp cố nhân.

Đa tạ Pháp sư lời vàng tiếng ngọc.

-           Hoan hỷ khổ hạnh.

-           Hoan hỷ lạc hạnh. Mặc cho nó đi, mặc tình nó đến . . .

Thân tâm đều xuất gia, thân xuất gia tâm không xuất gia, thân không xuất gia tâm xuất gia.

        

         Ngồi trên đá nói Pháp

 

                Hoà thượng Khai Sâm:

-           Cây nào vỏ cũng màu xanh,

Đơm bông kết trái hai cái phân biệt rõ .

Ba bước thiền sư có thể độ Sư .

Minh tâm kiến tánh, không sát sanh tức thái bình

Tu lợi, tu lợi ; tu không cầu lợi mới thoát sanh tử

Cơm nhạt trong bụng no, mọi việc đều tùy duyên .

Sư  Tâm Giác hỏi :

-           Trong kinh Lăng Nghiêm có đoạn “  phi huyễn . . . diệc phi . . .”

Sư phụ đáp :

-           Sáu căn phân biệt, liền có sanh tử, phàm cái gì có tiếp xúc sáu căn thì có sanh diệt, trở thành đời ác ngũ trược.

-           Phân biệt tức là giặc, đúng hay không ?

-           Đúng hay không đúng cũng là phân biệt.

-           “ Lấy giặc  đánh giặc”, trong Chỉ nguyệt lục có ghi công án :

                        Một vị tăng hỏi Triệu Châu ‘ con chó có Phật tánh chăng ?’

-      Có  hay không cũng không đúng, vì khởi vô minh. Nếu không vô minh thì hai người đều đúng, cũng đều không đúng.

-           Buổi sáng  Triệu Châu đáp KHÔNG để phá chấp CÓ của Tăng.

Buổi chiều Triệu Châu đáp CÓ để phá chấp KHÔNG của Tăng .

 

Pháp sư  Sâm Nghĩa, người quốc tịch Úc hỏi :

 

-           Sư phụ từ đâu đến ?

Sư phụ đáp :

-           Từ không chỗ trụ mà đến.

Pháp sư nghe, lấy làm thú vị nói rằng :

“ Ấy là ngôn ngữ của bậc kiến tánh”.

Sư phụ hỏi :

-           Hôm nay ông đến đây, vậy ông đến hay là ai đến ?

-           Con đến.

-           Vậy lại có một cái “ ta ” đến, cũng chưa đúng. Có một tướng tới lui thì có sanh diệt, đều là huyễn hoá. Bản tánh không đến không đi không sanh không diệt, không mình không người. Nói không cần suy nghĩ, chuẩn bị; khi có người hỏi thì lập tức trả lời, thế mới là không có đến có đi . Chúng ta nói chuyện phải qua suy nghĩ, vậy là có đến có đi, Phậït Pháp không thể nghĩ bàn, không thể dùng miệng mà nói được

Pháp sư nói :

-           Xin sư phụ chỉ dạy cho con phương pháp tu hành.

Sư phụ :

-           Thọ giới là thọ nhẫn nhục, tai nghe người khác mắng ông, kích bác ông, mà ông không quan tâm đến những điều đó thì gọi là giới

-           Tu hành rất khó, giữ được hạnh nhẫn nhục lại còn khó hơn; như nhẫn một tuần, hai tuần, một tháng cho đến một năm, ba năm thì dễ. Nhưng nhẫn cả đời thì không phải là việc giản đơn.

 

-      Vô minh của người xuất gia như lửa, vô minh của người tại gia như khói

 

Có vị pháp sư nói :

 

-           Căn phòng đóng kín của tôi rất nhỏ, không khí không được tốt.

-           Nếu đóng kín tâm thì thân này tạm dùng được, còn như đóng kín thân thì điều đó thường xảy ra.

Pháp sư :

-           Ban-chu tam-muội là một trong bốn loại tam muội mà Đại sư  Trí Giả gọi là Trường hành tam-muội; pháp môn Sư phụ đang hành trì là Trường tọa tam-muội .

Sư phụ nói :

-           Tôi không biết tôi đang làm gì, nếu ông không nói thì tôi cũng không biết . Vậy

đừng nói tôi đang làm gì .

 

 

Năm 1974 . Có một nữ cư sĩ hỏi rằng :

 

-           Con học Phật pháp ba năm sao không hiểu gì hết, chỉ biết niệm Nam-mô A-Di-Đà Phật. Có người nói Phật, Ma chỉ khác nhau một chút, không biết hiểu như  thế nào mới đúng ?

Sư phụ đáp :

-           Phật, Ma đều do chúng ta vọng tưởng mà có, chánh niệm tức là Phật, tà niệm tức là Ma .

-           Con học Phật chỉ mới ba năm, không biết gì cả, chỉ biết niệm Phật, phần lớn thời gian đều ở trên núi, chỉ có 2 - 3 tháng là ở nhà; con ở trên núi niệm Phật, có một thứ linh cảm, ấy là nếu nhà con xảy ra việc gì con đều biết ngay.

-           Như vậy là con không có chánh niệm, tưởng nhớ đến việc nhà nên niệm Phật không chuyên nhất, có tạp niệm thì không có chánh niệm. Con vừa nói muốn học Phật, mà học Phật thì tư tưởng của thế gian phải vứt bỏ.

 

Sư phụ dạy :

 

   ***  Lịch sử và văn hoá Trung Quốc có giáo dục lễ, nghĩa; có Phật pháp Đại thừa và Tiểu thừa , nhưng mà người không có lễ nghĩa thì học Phật tương đối khó . Từ xưa Trung Quốc đã có lễ, nghĩa, trung, hiếu . Thuận với đạo lý mà làm, thì xã hội ổn định, quốc thái dân an. Thế giới ngày nay muôn màu muôn vẻ, muốn có được thân ngươi không phải dễ. Nếu không biết lễ, nghĩa, trung, hiếu thì dù có làm bác sĩ, cũng khó cứu được người. Bác sĩ chỉ học về sắc tướng; những gì có sanh có diệt thường chỉ gây nguy hại chứ không cứu được người; mắt cho thấy có sanh ắt có diệt. Các bậc thánh hiền xưa có lễ nghĩa, tuân theo quy cũ, làm cho thế giới thái bình, mới có thể cứu đựơc người.

   *** Vô minh của chúng ta giống như đám mây, có lúc che ánh sáng mặt trời. Phàm mọi sự muốn đạt được đến chỗ rốt ráo, thì bắt đầu là phải dứt vô minh; không dấy lên ngọn lửa vô minh, không sanh phiền não, không đố kỵ người. Nếu như có tâm đố kỵ thì sẽ đoạ vào ba đừơng ác, kiếp sau không biết có được trở lại làm người hay không ? Cho nên mới nói : “ Thân người khó có, Phật pháp khó được nghe, chánh pháp khó gặp ”.

   *** Trong tâm chứa đầy đủ tất cả, cần dùng liền có, không dùng thì không có, ấy gọi là “ không tức là sắc, sắc tức là không ”.

*** Ăn thịt chúng sanh tức là ăn thịt chính mình, giết người tức là tự giết mình. Nói điều phải trái của người tức là điều phải trái của mình; nói Người khác xấu tức là chính mình xấu.

   Việc của Người xuất gia chúng ta, không nên nói cho người tại gia nghe. Mỗi đạo tràng đều có một vị La Hán. Ta phê bình người khác, chẳng phải là động đến các vị La hán đó sao ?

   Mặc ai có đúc tượng Phật cao bao nhiêu, hay làm hàng vạn tượng Phật đi nữa, các vị chỉ nên lo niệm Phật, tu khổ hạnh, ăn mặc đạm bạc thô sơ thì tự nhiên có người đến cúng dường, so với người xây đắp tượng Phật, công đức vẫn hơn.

*** Phải khổ hạnh mới đạt đến trí tuệ và Phật báo, phứơc báo .

Phứơc báo là khi người nhìn  mình, họ liền phát sinh lòng vui mừng, tâm cung kính. Phước báo là được Người cúng dường, nhưng mình phải quý phước, không nên xa xỉ. Mặc dầu có phước báo nhưng cần phải chừng mực, tốt hơn nên đem phước ấy ban bố cho người khác, không nên ôm giữ riêng cho mình .

*** Tự mình tinh tấn mà không hay biết, cần thuận theo tự nhiên không nên chấp trước – chấp rằng phải ra sức dụng công

*** Phật pháp không lìa thế gian pháp, tức là muốn cứu độ Người cần phải đề cập đến những liên hệ nhân quả trong xã hội ; phải tiếp xúc với xã hội. Còn thế gian cũng không lìa Phật pháp, nghĩa là mọi sự mọi việc trong xã hội phải dựa vào Phật pháp mới có thể đề cao cái thiện và tiêu trừ cái ác .

 

Có Người hỏi Sư phụ

-           Vì sao con không muốn ngủ nhiều mà chẳng có cách gì để đối trị.

Sư phụ đáp :

-           Vì con người có vô số tham dục, chẳng hạn miệng thích ăn, ăn no thì ưa ngủ. Mũi thích ngửi mùi thơm, mà hương thơm thì làm cho tâm tán loạn. Tai ưa nghe nên sinh ưa thích, ưa thích mà phải xa lìa thì khổ. Mắt ưa nhìn tâm động, tâm động thì bị “ nhập tâm ”

Có Người ngoại đạo phát biểu :

-           Tôi muốn tu cho đến sống mãi không già .

Sư phụ nói :

-           Thân xác tôi không có chỗ gởi vào, nhưng tâm linh tôi thì có nơi để đến. Ngày nào đó, tâm linh sẽ lìa cái thân giả tạm này.

Tôi đã chuẩn bị cho cái thân, thì tâm linh tôi có chỗ để đến .

Ấy  là : thân xác trở về tứ đại, tâm linh đến Tây  phương .

Ngoại đạo nói :

-           Tâm linh  của tôi ở trong vạn vật vũ trụ .

-           Tâm linh mà gởi trong vạn vật vũ trụ thì thật là nguy, vì phải thay hình đổi dạng và luân chuyển trong bốn loài chúng sinh. Mắt cho thấy, có sanh phải có diệt, vạn vật trong vũ trụ đều bị huỷ hoại. Dù cho thân thể này tồn tại hai ngàn năm đi nữa, cũng giống như tảng đá kia, vẫn bị huỷ hoại mà thôi.

-            

Ngày 14 - 01 – 1974

Sư phụ nói :

-           Độ chúng sanh không chỉ dùng lời nói, mà phải tu đạt đến chỗ vô hình trung cảm hoá được người, chứ không phải “ lấy cái gì đó ” để hoằng pháp .

Pháp sư Độ Luân :

-           Đúng vậy,  dùng pháp vô vị, không dạy bằng lời. Hiện nay tôi muốn làm việc gì thì tôi cũng có thể làm được, thí dụ : tôi muốn chỗ tôi đang ở là thành phố  SanFrancisco không bị động đất, thì không bị động đất, không phải là đất không động, mà do tôi khiến cho đất không động. Trước kia tôi ở Hồng Kông, có trận cuồng phong sắp thổi đến, tôi làm cho nó thổi ở ngoài khơi, cách 20 dặm Anh. Khi tôi còn là sa-di có quỉ, thần, rồng, hồ ly đến quy y. Bây giờ tôi có một số đệ tử  người Mỹ, dù cho tôi đánh họ, mắng họ, họ cũng không bỏ tôi mà đi.

-           Tu hành phải tu tới chỗ nói được thì làm được, nói như thế nào thì phải làm như thế ấy. Còn phần tôi, tôi không nói là tôi đang làm gì cả, người ta  thấy tôi hoặc nghe tôi nói một vài câu, họ cảm động; sau khi tôi đến Đài Loan, Đài Loan cũng tương đối được an ổn.

-           Đó là đức hạnh của Hoà thượng cảm hoá được mọi người, những điều ấy tôi chưa nói với ai, vì gặp được tri kỷ nên mới thổ lộ. Tôi đến nước Mỹ, là do Lục Tổ Đại Sư bảo tôi đến, pháp tự của tôi là Độ Luân, pháp danh là An Từ, Hoà thượng Hư Vân đặt tên tôi là Tuyên Hoá .

-           Khi tôi ở Cổ Sơn cũng đã từng gặp Hoà thượng Hư Vân. Tôi là người tu khổ hạnh, một chữ cũng không biết, không biết thuyết pháp, không biết gì cả.

-           Hoà thượng quá khách khí, xưa nay vốn gọi đó là vô sở đắc, tu hành không phải dựa trên văn tự mà phải có đức hạnh mới độ chúng được. Lục Tổ Đại Sư một chữ cũng không biết, công phu mà tôi có được là nhờ trì chú Lăng Nghiêm và chú Đại Bi, lúc gặp việc gì nguy cấp phải dùng đến, không cần phải niệm từ đầu tới cuối, chỉ niệm một vài câu hoặc một chữ  trong đó cũng có thể cảm ứng, tùy theo tình huống mà dùng câu cần thiết .

-            Tôi chỉ niệm Phật, khi gặp việc gì chỉ cần niệm một câu A-Di-Đà Phật là được.

-             Tôi vốn ưa giúp người, nhưng vì giúp người mà bị nhiều sự hủy báng. Mặc dù vậy, lòng lợi tha của tôi cũng không thối chuyển, nếu đem đầu tôi chặt đi, tôi cũng vui vẽ bằng lòng. Ai chửi mắng tôi, tôi cũng xem đó như  lời ca tiếng hát; ai đánh tôi cũng như đánh vào vách, vì tôi muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo .

-            Ngài chính lá Bồ Tát.

-             Ngài là đại A La Hán, chúng ta sớm đã biết nhau, mấy chục năm không gặp, bây giờ lại được  trùng phùng. Tuy nói như  vậy nhưng thật ra chúng ta đã gặïp nhau mấy lần rồi.

-            Ngài vừa đến, tôi đã biết trước Ngài là ai; tâm Bồ Tát định gặp tức là gặp .

-             Phàm có tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng là phi tướng tức là thấy Như Lai.

-             Ấy vẫn còn là sắc tướng, dù sao tướng vô hình có được cũng do tu luyện từ tướng hữu hình mà ra.

-             Mượn giả để tu chơn .

-             Những gì mắt thấy đựơc thì vẫn còn sanh diệt, những gì mà tai nghe đựơc cũng như vậy .

Thỉnh  Hoà thượng trụ thế lâu hơn, trong chỗ vô hình Ngài hộ trì cho tôi hoằng pháp .

-             Lần này tôi muốn rời cõi Ta-bà, không ngờ bị tín chúng giữ lại.

-             Đến - không từ đâu mà đến; đi - không từ đâu mà đi .

-            Tôi muốn đến thì đến, muốn đi thì đi, - đến đi tự tại .

Pháp sư cười nói :

Ngài không đi, bởi vì tôi chưa đến; bây giờ tôi đến rồi thì Ngài lại càng không được đi. Ngài phải trụ thế lâu hơn để cho thế giới hoà bình. Chúng ta mỗi Người ở mỗi nơi, làm việc riêng của mình. Xin Hoà thựơng đem tinh thần giúp tôi hoằng pháp lợi sanh, hàng phục thiên ma, thuyết phục ngoại đạo .

-      Còn như bây giờ chúng ta đang nói đến chuyện hoằng pháp; không thể mang cái gì ra để hoằng pháp, mà phải tu đạt đến chỗ cảm hoá người một cách vô hình. Đến như kẻ xấu trông thấy cũng khởi lòng tin, không cần dùng lời nói .

          -      Đúng vậy, đúng vậy ! Hồi tôi ở Mỹ, nhiều người giàu có đến chùa tôi cũng không tiếp chuyện, nhưng họ vẫn khởi tâm kính ngưỡng, ấy gọi là : “động” cũng đại chuyển pháp luân “ tĩnh ” cũng đại chuyển pháp luân; động-tĩnh không hai, tĩnh-động là một .

                   Sư phụ cười, Pháp sư Độ Luân cũng cười, Pháp sư ngửa bàn tay đưa cho sư phụ xem, sư  phụ cũng ngửa bàn tay đưa cho Pháp sư xem. Hai người cùng mỉm cười hiểu ý nhau .

                      Sư phụ nói :

-             Tôi không định nói điều gì cả, nhưng vì Ngài nói nên tôi mới nói, không cần phải nói nhiều lời

-             Tôi không nói gì cả :

           Pháp sư  Tạng Độ thấy sư phụ ngồi từ sáng đến chiều, tỏ ý :

-   Hoà thượng ngồi lâu quá rồi !

-             Chính Ngài mới ngồi lâu đấy chứ .

 

           Ngày 3 và 4 tháng 7 – 1974

 

           Sư phụ bắt đầu giảng dạy. Lúc ấy không có người ghi chép, bây giờ chúng tôi hồi ức lại lời sư phụ dạy, xin lược ghi ra đây :

                         “ Cư sĩ đến chùa cúng dường tài vật là để tạo phước điền, phải nên bố thí không hình tướng thì công đức mới lớn, nghĩa  là không thấy Người bố thí, vật bố thí và người được bố thí.

                         Cư sĩ đến chùa tụng kinh bái sám phải thành tâm, phải buông xả. Không nên thân ở Chùa mà tâm lại lo nghĩ đến con cái ở nhà; con cái tự có phước báo của chúng, nên không cần quan tâm đến mà phải chuyên tâm học Phật. Nếu như còn để tâm lo nghĩ đến con cái và việc nhà, tức  là người si mê .

                         Cư sĩ đem phẩm vật đến cúng dường chư Phật, vật ấy trở thành vật của Tam Bảo, không còn là vật của mình .

                         Giả sử trẻ con dẫn đến chùa đòi ăn trái cây cúng Phật hoặc đã cúng rồi, không thể tự tiện lấy cho. Vì phẩm vật ấy đã  trở thành vật của Tam Bảo, không thuộc về mình. Muốn cho chúng thì phải có sự đồng ý của người xuất gia trong chùa .

                         Cư sỹ đến chùa  tụng kinh bái sám, tham gia Pháp hội, phải sống hoà đồng, không nên chê thức ăn ngon dở, vì ở chùa không giống như ở nhà. Ở nhà có thức  ăn ngon, còn đến chùa thì phải ăn thức ăn đơn sơ, đạm bạc mới đúng. Cư sỹ đến chùa phải giúp đỡ công việc trong chùa, không nên nhàn rỗi vô sự, không nên nói chuyện đông chuyện tây, bàn luận thị phi.

                         Người xuất gia ở trong chùa, đối với người tại gia đến chùa lễ bái, không được cùng họ bàn chuyện thế tục, cần phải hướng dẫn họ học Phật như thế nào . Vì mục đích của cư sỹ đến chùa  là để xin nhờ Người xuất gia giảng dạy Phật pháp, theo người xuất gia để học cách đốt hương lễ phật, niệm Phật. Mục đích của người xuất gia là liễu sanh thoát tử mà muốn liễu sanh thoát tử thì cần phải nỗ lực tu hành, nếu không khổ hạnh thì không thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, chắc chắn đời sau sẽ rơi vào sáu nẻo luân hồi. Trong 4 loài noãn, thai, thấp, hoá, người là thai sanh có linh giác trong vạn vật, rất thông minh, cho nên con người tu học Phật pháp tương đối dễ dàng. Còn các động vật khác thì rất ngu si, không thích ứng đựơc với sự học Phật pháp.

                         Người xuất gia phải nên biết rằng, đựơc làm thân người không phải là dễ, phải biết nắm lấy cơ hội được làm thân người để nỗ lực tu hành, mong cầu giải thoát. Nếu không thì tu chưa  thành đạo lại sẽ phải tái sanh trong bốn loài, cũng chẳng biết sẽ sanh vào loài nào.

Giả như kiếp sau sanh vào loài chim (noãn sanh), loài cá (thấp sanh), loài sâu bọ (hoá sanh), trí  tuệ của chúng thấp hoặc không có trí tuệ các loài ấy muốn tu học Phật pháp  rất khó.

 

Ngày 8 - 7 – 1974 Sư phụ kể lại cuộc đời của Ngài .

 

Khi tôi lên 5, 6 tuổi cùng mẹ đến chùa lễ Phật, có vị pháp sư bảo : “ Gieo  thiện  căn cho con ”. Lúc 25, 26 tuổi tôi đến chùa Thừa Thiên. Chẳng bao lâu cha mẹ qua đời, tôi bèn đi Nam Dương, vẫn ăn chay như cũ. Trong khoảng thời gian ấy tôi cảm nhận sâu sắc về cuộc đời, không có gì đáng để mơ ước, đời người cũng chẳng có ý nghĩa gì. Cha mẹ có để lại tài sản, ruộng đất ; nếu như  tôi cũng sống cày cấy như cha mẹ cho đến già, cuối cùng cũng đi đến cái chết mà thôi, vĩnh viễn trong vòng luân hồi sanh tử, do đó mà tôi mong thoát khỏi sanh tử . Ba mươi sáu tuổi tôi từ Nam Dương trở về chùa Thừa Thiên, chánh thức xuất gia. Tôi đảnh lễ Pháp sư  Thụy Phương xin làm đệ tử, xuống tóc cho tôi. Lúc bấy giờ ai cũng chỉ nghĩ đến nghề ruộng vườn. Tôi không được học, không biết chữ. Trước tiên tôi học làm vườn, bửa củi, nấu ăn, làm những việc không ai muốn làm. Trong thời gian ấy  tôi vẫn niệm Phật, ngồi thiền. Sau khi thọ giới  xong, tôi trở về chùa Thừa Thiên ở ba năm, dốc lòng tu tập, chuẩn bị vào núi sâu để tu khổ hạnh. Khi vào núi, tôi chỉ  mang theo một ít gạo, kim chỉ, áo quần và những dụng cụ cần thiết.

Nơi đây tôi tìm được một động đá. Động ấy có hai cửa, tôi ngăn lại một cửa. Trong động rất kín đáo và mát mẻ, lại có một tảng đá bằng phẳng có thể ngồi thiền rất thoải mái. Vào lúc mặt trời lặn bỗng nhiên có một con hổ tiến vào động, nó đưa mông vào trước. Tôi giật mình niệm liên tiếp “ A-Di-Đà Phật … ”. Hổ cũng hoảng hốt bỏ chạy, một lúc sau nó trở lại, tôi nói với nó : “ Này hổ, con không thể nhường động này cho ta tu hành được sao, hay là con muốn ăn thịt ta ? ” Tôi thấy con hổ  không tỏ ý  dữ, nên  liền quy y cho nó, ấy gọi là  “ tâm động tâm ”. Tôi không có ác ý, nó cũng không có ác ý. Vậy là ngày hôm sau nó dẫn vài con hổ đến, chúng nhảy qua nhảy lại ở trước cửa động, tỏ vẻ rất vui thích, cảnh tượng ấy rất đẹp. Đó là nhờ ăn chay tu hành mới được vậy. Chốn thiên nhiên u tịch, ngoài tiếng chim kêu vượn hú ra, không có tiếng ồn ào của thế giới bên ngoài, thật là thanh tịnh.

Dù trước kia ở chùa Thừa Thiên tôi đã tập quen ăn, mặc, ở thật đơn giản, nhưng chỉ sau vài tháng số gạo mang theo cạn hết. Lúc đó tôi mới bắt đầu dụng công ngồi thiền, lần đầu chỉ được một tuần thì cảm thấy đói. Tôi ra khỏûi động tìm thức ăn, nhìn  thấy  bầy khỉ ăn trái cây. Tôi nghĩ, khỉ ăn được thì người cũng có thể ăn được. Thế  là tôi lượm vài trái khỉ ăn còn lại để ăn. Sau khi ăn xong, cảm thấy dễ chịu, định lượm một ít đem về ăn, bầy khỉ  thấy vậy ra sức rung cây  khiến cho trái rụng xuống, tôi lấy đem về. Số trái cây ấy chỉ  ăn  đủ vài ngày, tôi lại tiếp tục dụng công thiền định. Khoảng một tháng sau lại cảm thấùy đói. Lần này ra ngoài tìm thức ăn, kiếm được một đám khoai rừng ước chừng một - hai mươi cân, tôi lấy cành cây đào lên một ít để ăn  rồi  lấy đất lấp lại, về động dụng công hành thiền tiếp. Xưa nay việc tu hành chỉ là mượn giả tu chơn, ăn ít, tạm đỡ đói là đủ. Đám khoai rừng ấy lại ra củ non, đủ ăn trong vòng 3, 4 năm.

Ở trong động khô ráo sạch sẽ nên quần áo ít khi giặt. Có lúc tôi cũng vá lại nó. Nhưng ngày qua tháng lại, áo quần vẫn phải rách . Đến khi ba cái chỉ còn một mà lại quá rách nát, tôi liền an ủi tấm thân giả  tạm này : “ Sau sẽ may cái tốt hơn cho ngươi mặc ”. Về sau tôi nghĩ, ở  lâu trên núi làm bạn với cầm thú chẳng qua chỉ tự độ  mà thôi. Đức Phật dạy rằng : “ Trước tự độ mình, sau cần phải độ chúng sanh ”. Dù ở trên núi một ngàn năm cũng chỉ là tự độ, muốn độ chúng sanh ắt phải xuống núi. Thế rồi tôi trở về chùa Thừa Thiên. Khi xuống núi râu tóc mọc dài, giống như người rừng chẳng khác. Người trong chùa đều không nhận ra tôi, buộc tôi phải nói tôi là ai, ở chùa nào, thầy tôi là ai. Họ bèn đem y phục cho tôi mặc, cho tôi uống một ít nước cháo trắng. Tuy tôi không muốn uống nhưng không nỡ phụ lòng tốt của mọi người. Sau khi uống vào ít cháo tôi cảm thấy đầu óc không còn sáng suốt minh mẫn như trước .

Khi tôi còn ở trên núi, các tiều phu gọi tôi là “ thầy phục hổ ”. Tôi trở về chùa  Thừa Thiên được 5, 6 năm, có cư sĩ Lâm Giác Phi muốn bái tôi làm thầy. Tôi bảo : “ Anh nên tìm vị khác làm thầy, tôi không biết chữ ”. Nhưng sau khi anh ta đi thăm dò khắp nơi, cuối cùng vẫn xin bái tôi làm thầy. Tôi đồng ý. Anh ta xin tôi bảo hộ để được bình an trót lọt trên đường đi ra Đài Loan. Đến Đài Loan, anh viết thư  thỉnh tôi qua đó hoằng pháp. Tôi nghĩ mình không biết chữ làm sao hoằng  pháp. Hơn nữa, hồi tôi ở chùa Thừa Thiên đi mua rau không biết làm toán nên lộn mất cả tiền, nói  gì đến việc qua Đài Loan hoằng pháp. Anh ta biết việc ăn mặc của tôi rất đơn giản, không gì đáng lo, liền gởi tiền cho tôi làm lộ phí. Sau khi tôi đến Nam Phổ Đà - HẠ MÔN, nhận được thư  và 1000 đồng Đài Loan từ chùa Thừa Thiên chuyển đến. Đúng dịp ấy có pháp sư Phổ Quán (trụ trì Đại Phật Viện Cơ Long), vốn từ Đài Loan  đến Lục Điạ, cũng muốn trở về Đài Loan, nói với tôi : “ Thầy  chưa quen biết Đài Loan. Tôi có người chị ở Tiên Động, tôi sẽ đưa Thầy đến đó ”. Tôi và vị pháp sư ấy cùng đến Tiên Động - CƠ LONG  ở vài tháng. Sau đó, Lâm Giác Phi đón tôi đến chỗ ở của anh ta. Lúc bấy giờ cũng có nhiều vị pháp sư mời tôi đến ở, tôi đều nhẹ nhàng từ chối, vì tôi thích ở trên núi cất am tranh để tự tu.

Độ chúng sanh không phải đơn giản, cần phải có Phật duyên và Phật báo, tự  mình có công tu hành, phước huệ đầy đủ thì tự nhiên Hộ pháp Vi Đà gia hộ. Nếu không như vậy, dù muốn độ người, Người cũng không để cho mình độ .

Ngày nay tôi độ được nhiều người cũng là nhờ Hộ pháp Vi Đà gia hộ. Muốn độ người c?n phải có tâm khoan dung độ lượng, ai hỏi bất cứ điều gì tôi cũng đều  nhẫn  nại trả lời, không hề khó chịu, mọi Người thấy tôi vui vẻ; còn phần tôi, tôi không hiểu làm sao độ đựơc chúng, lập được đạo tràng. Tuy tôi không biết giảng kinh, nhưng có chút ít công phu tu hành có thể tỏ bày, chỉ  ngay cho họ con đường đến Tây Phương “.

 

                                     Sư  phụ bảo đại chúng cùng niệm Phật

Nam-mô A-Di-Đà Phật

Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát

Nam-mô Địa Tạng Vương Bồ Tát

 

Ngày 9 - 7 - 1974

         Vào tháng 7, Sư phụ tổ chức pháp hội Địa Tạng  trong vòng một tháng, cứ  mỗi chiều Ngài giảng một giờ, thầy Truyền Hỷ dịch sang tiếng phổ thông, thầy Truyền  Văn dịch lại sang tiếng Đài Loan. Đệ tử  xuất gia của Sư phụ gồm có các thầy Truyền An, Truyền Phụng, Truyền Hối, Truyền Tổng, Truyền Tịnh, Truyền Đăng, Truyền Hải, Truyền Ngạn, Truyền Duyên, Truyền Thực, Truyền Âm, Truyền Đà, Truyền Tu, Truyền Nghĩa, Truyền Thông .

         Mỗi chiều sau khi Sư  phụ  giảng xong, hứơng dẫn chúng niệm Phật, lễ Phật. Hôm trứơc Sư phụ nói về nhân duyên xuất gia và việc tu hành ở chùa Thừa Thiên và ở núi Thanh Nguyên, còn hôm nay thì Sư  phụ kể lại những việc ở Đài Loan.

          “ Tôi ở chùa Thừa Thiên, định đến Nam Phổ Đà thì có điềm báo trước, một con chim  (chim bạch-lộ-ty)  đến trước mặt tôi kêu : “ Lão Hoà  thựơng ” ( tiếng kêu của nó nghe giống như vậy ). Tôi ngờ rằng nó kêu Thầy tôi là Ngài Chuyển Trần, vì lúc ấy Ngài Chuyển Trần Là  Hoà thượng trụ trì, không ngờ nó lại kêu tôi .

         Có người không dám làm Hoà thượng, vì làm Hoà thượng không phải dễ, không thể tùy  tiện gọi ai cũng là Hoà thượng. Nếu làm Hoà thựơng thì phải trụ trì, xây dựng đạo tràng, độ người; vả lại cách hành đạo có chỗ khác với pháp sư . Sở dĩ tôi rời chùa Thừa Thiên đến Nam Phổ Đà là do cư sĩ Lâm Giác Phi viết  thư  mời tôi đến Đài Loan để hoằng pháp  độ sanh. Tôi nghĩ rằng đã có Người thỉnh thì tôi  cũng tùy duyên  đến Đài Loan xem sao. Thế  là tôi đi  thuyền  đến Hạ Môn lo giấy tờ xuất cảnh .

         Tôi không giống như những pháp sư khác đi theo bộ đội  mà đến. Sau khi tới Đài Loan, tôi ở Tiên Động 4 – 5 tháng rồi lại đi Đài Bắc. Ban đầu tôi ở động núi Chi Sơn được mấy tháng, sau đó đến chùa Long Sơn, nhưng vì khí  hậu nơi đây quá nóng chỉ ở đựơc vài ngày, bèn  đến Thuỷ Liêm Đình – TÂN ĐIẾM ; ở đựơc một hai ngày có một “ thái cô ” (cô ăn rau chay )  mời tôi đến chùa Pháp Hoa. Chùa này vốn là của người Nhật, sau khi Người Nhật rút về nước còn nhiều hồn ma Nhật ở đấy. Ban đầu tôi không  biết, nhưng lúc cùng đến  đó với cư sĩ Cao Minh Thụ, đêm  nghe âm khí lạnh buốt. Có nhiều bóng ma mặc độ Nhật, tóc chải, mang đồ đạc trên  lưng hiện ra. Mọi người không ai dám ngủ  lại, lần  lượt lén bỏ đi, chỉ  còn lại một mình  tôi. Tôi giảng pháp  cho các hồn ma, đồng thời phát hiện thấy nhiều xương người dầm trong chum  nước để dưới đất. Tôi vớt ra từng cái đem phơi khô, sau đó bọc kỹ lại, niệm Phật siêu độ cho họ, thế  là mọi sự bình an trở  lại. Hiện nay ở chùa Pháp Hoa vào ngày 17 mỗi tháng có tổ chức tụng kinh  cầu siêu, thông lệ này bắt đầu từ đó. Các “ thái cô ” chùa Pháp Hoa chỉ bíêt ăn chay, không hiểu Phật pháp, cũng không biết coi trọng pháp sư . Sau khi tôi làm cho ngôi chùa ấy  bình an trở lại họ vẫn không biết cung kính pháp sư và ứng xử như người thế tục, có Người còn nói rằng thỉnh  tôi đến đây chưa chắc đã mời tôi ra khỏi được. Mà tôi thì không thích ở chùa người, bèn giả từ họ.

         Từ chùa Pháp Vũ đến núi Đại Đồn có chùa Đại Từ, nơi đây có vài ngôi nhà Nhật Bản, có mấy “thái cô” ở, họ đều để tóc, có gia  đình và con cái. Có “thái cô” tên A Thụy mời tôi đến. Tôi cùng sư sĩ Cao Minh Thụ đến xem qua thì thấy giống như chùa Pháp Hoa. Thế là lại tiếp tục lên đường đi đến Thủy Liêm Đình nằm bên kia Điếu Kiều – TÂN ĐIẾM, gần TÂN XÃ .

          Nếu muốn xây dựng đạo tràng tôi có thể mua một ngọn núi ở Thủy Liêm Đình, nhưng tôi nghĩ người xuất gia không cần làm như thế, ở đâu cũng xong, sống qua ngày  là được. Về sau, từ Thuỷ Liêm Đình nhìn ra tôi thấy một ngọn núi giống như đầu sư tử, trên núi này có một tảng đá lớn, tôi liền nghĩ có thể đục đá thành động để ở, vì Người xuất gia không nên ở nhà thế tục  (chỉ Thủy Liêm Đình). Do đó tôi mới rời Thủy Liêm Đình cùng cư sĩ Cao Minh Thụ  lên núi  đục đá  làm động, thiên hạ ở đây cũng đến giúp đỡ. Thế là tôi có được một động đá để an trú. Dần  dần  có một số Người  đến quy y .

         Ở Tân Điếm, nhiều Người không có tinh thần hộ pháp nhưng lại tổ chức Hội  hộ pháp, lợi dụng người xuất gia để thu tiền hương đèn. Người Đài Loan lúc bấy giờ không có chánh  tín, không hiểu Phật pháp, giống như  những người thờ thần miếu vậy. Tôi ở động Quảng Minh  độ chúng. Lúc đầu cứ nghĩ Hội hộ pháp là nhằm để  ủng hộ Phật pháp, sau đó thấy nhiều người hăm hở đến quy y …. Tín đồ đến, tôi nấu cơm đạm bạc cho họ ăn, nghĩ rằng mình chỉ cần hoá độ chúng sanh, nếu hoá độ tốt thì đạo tràng nào mà chẳng thành. Nhưng mọi người không hiểu, họ bảo không nên cho tín chúng ăn, làm như vậy là phí của, nhà chùa  mất đi thu nhập. Tôi chỉ chú trọng độ chúng, không chú trọng đến tiền bạc và không xem trọng hình thức bên ngoài, nghĩ rằng ở Đại Lục Người tại gia phải cất nhà cho người xuất gia ở, làm gì có người tại gia đi lợi dụng người xuất gia. Tôi chỉ muốn độ sinh chứ không muốn mình giống như ông thần miếu. Do đó bèn xây dựng chùa Quảng Chiếu phía trên động Quảng Minh và tạc một pho tượng Phật A-Di-Đà cao  1 trượng 8. Có Người nói với tôi : “Ngài vào ở chùa Quảng Chiếu, để động Quảng Minh cho chúng tôi quản lý”. Tôi bảo : “Các ông muốn quản lý động Quảng Minh tùy các ông, chúng tôi là Người xuất gia không thể để các ông quản lý được ”. Vì thế tôi vẫn ở trong chùa Quảng Chiếu. Tôi nghĩ bụng, sau khi tượng đức A-Di-Đà chùa Quảng Chiếu hoàn thành dân chúng ở Tân Điếm sẽ được bình  an; nơi đây  ắt sẽ đựơc phát đạt và tương lai có thể trở thành khu du lãm.

         Về sau chùa Quảng Chiếu cũng có người muốn lấy, tôi mới cùng với sư Truyền Ý và Trịnh Thuỷ Thanh đi đến động Nhật Nguyệt. Trong động có một cái ao – nơi đây heo rừng thường đến tắm, trong động có cây cối, trên đỉnh động có nước nhỏ giọt, tôi nhận thấy nơi này thật tốt. Lúc đầu động Nhật Nguyệt không có lối đi, cỏ giây mọc đầy, tôi phải  lần theo dây mây bám dọc theo vách đá mà leo lên. Đến nơi thấy chẳng có gì để ăn, mọi người bảo tôi : “ Sư  phụ không thể ở đây được ”. Tôi nói “ Các vị về đi ”. Sư Truyền Ý nói muốn ở lại cùng tôi. Trước kia ở Đại Lục tôi đã có nhiều công phu tập luyện, dụng công ngồi thiền. Nhờ công phu thiền định nên không sợ lạnh, vả lại lúc ấy tôi còn trẻ, thân thể khoẻ mạnh, nên một mình tôi ở nơi này cũng không sao. Còn sư Truyền Ý thì ngủ nằm, sợ lạnh, phải xuống núi lấy chăn bông, khi trở lên trời tối không tìm ra đường nên rán hết sức kêu tôi, tôi gọi to trả lời, sư mới nương theo tiếng lần lên  tới động được, sau đó động được sắp xếp lại tốt hơn. Dần dần một số tín đồ ở Tân Điếm tìm tôi không thấy, nghe tin tôi đến chốn này, họ cũng theo lên, rồi có nhiều kẻ ở lại, nam  nữ cộng khoảng mừơi Người.

         Động Nhật Nguyệt là tên do tôi đặt. Tôi thấy lần này không phải như khi ở núi bên Đại Lục; trước mắt, việc độ chúng không đựơc thuận lợi, nhất là đối với  Người già cả, nên đã kiếm xem một mảnh đất nào đó tương đối thấp để mua, và  kiến  lập chùa Thừa Thiên. Núi này 1úc đầu giá rất rẻ, mua chỉ một ngàn đồng. Tín đồ lúc ấy đều là dân ở Bản kiều, họ kiến nghị tôi mua khoảnh đất này, và tự họ bỏ tiền ra mua. Nơi này vốn có tên là “ Trúc Tử Lâm ”, rất âm u, không có lối đi, rắn rết rất nhiều, nếu là Người không bản lãnh thì không dám đến. Dân  địa phương muốn chặt tre, ít nhất cũng phải 5, 6 Người cùng đi. Sau khi mua đất này xong, tôi liền  dùng vật liệu tại chỗ và nhờ người xung quanh giúp chặt tre, dựng một lều tranh”

 

Sư phụ bảo đại chúng cùng niệm Phật

 

Nam-mô A-Di-Đà Phật

Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát

Nam-mô Địa Tạng Vương Bồ Tát

 

Ngày 10 - 07 - 1974

 

“Phàm là người thế gian đều phải chịu cái khổ sanh,  lão, bệânh, tử . Chúng ta phải biết mình từ đâu sanh ra, chết đi về đâu. Con cái càng đối xử tốt với ta, ta càng khó xa lìa chúng. Vì quyến luyến thế gian nên không biết thoát ly khổ hải, vẫn ở mãi trong vòng luân hồi. Ấy là do nghiệp chướng quá nặng, mà nghiệp  chướng là phiền não, là vướng vít, như vướng vít con cái trong gia đình. Mỗi Người bị vướng vít khác nhau, nhưng đều vì thế mà quên mất con  đường sanh tử của chính mình, thậm chí  khi sắp chết, cũng chẳng quan tâm sẽ đi về đâu.

Trẻ con mà đã biết kính Phật đó là nhờ thiện căn từ kiếp trước.

Cho nên nói rằng chúng sanh tùy nghiệp chuyển; chúng sinh nghiệp chướng không giống nhau,  không chuyển được nghiệp thì phải luân hồi, chịu phiền não vô tận. Người già biết sám hối thì khỏi thác sanh vào bốn loài; bằng không, ắt sẽ có chỗ của mình trong đó

Có người hỏi Ngài rằng “ Định nghiệp không thể chuyển ? ”, Ngài nói : “Nếu hiểu đạo, tin Phật sám hối Phật thì định nghiệp có thể chuyển được”. Nghiệp cảm của mỗi người không giống nhau; không giác ngộ thì ở cõi Ta-bà mà cho là chốn Cực lạc. Như dòi bọ trong nhà xí, như  người ăn thịt đi mua gà vịt ở chợ rất lấy làm sung sướng; khi hiểu ra rồi, mới biết đó là tội lỗi. Người  ăn chay nhìn thấy người ăn mặn mắc tội, mới cảm thấy ăn chay là hạnh phúc. Người đang hưởng phước thế gian tự cho mình đang ở thế giới cực lạc, mà chẳng biết hưởng phước như vậy có vĩnh viễn không ? Khi phước hưởng đã hết thì khổ não và phiền não sẽ đến. Cho nên chúng ta đã quy y Tam Bảo, phải thường xuyên niệm Phật, không bận bịu vì con cháu, không vướng vít với người khác, phải vứt bỏ tất cả. Rất ít người được hưởng phước mãn đời, có kẻ hưởng phước bao nhiêu thì lại  chịu khổ  bấy nhiêu. Ở nhà phải tinh tấn lễ Phật niệm Phật, ít nói chuyện phù phiếm, ngõ hầu  thoát khỏi  biển khổ

Con người ai cũng mang nghiệp chướng, mà đời Người thì ngắn ngủi; còn nghiệp  chướng  là còn sanh tử luân hồi. Ngay trong bốn loài, thân người cũng khó được; người  phiền não thác sinh vào bốn loài, các loài đều có khổ não riêng, như gà có khổ não của gà . . .  Chỉ có niệm Phật  thì mới dứt đừơng sanh tử.

Chúng sanh tùy nghiệp mà lưu chuyển, có kẻ đầu thai làm trâu, heo, gà, bướm …. Chúng ta muốn thoát khỏi luân hồi phải nhất tâm niệm Phật. Nếu không như  vậy thì tùy theo nghiệp  mà  lăn lộn  mãi trong sáu đường. Có Người vì mắt phàm không thấy, chẳng tin có luân  hồi; song chúng ta có thể nhìn thấy điều đó trong cuộc sống, những súc vật như heo, bò do nghiệp gì mà đầu thai ? Chúng sanh do nghiệp chuyển, muốn nhờ Phật lực chuyển không phải dễ; mong giải  thoát quả thực rất khó khăn. Tập khí, cá tính mỗi người khác nhau, nhưng nói chung thân thể ta cũng giống như  một địa ngục mà tâm linh vào lưu trú.

Người tại gia khó mà hiểu đựơc sự tu hành của Người xuất gia. Cùng là Người cả nhưng chúng ta không thể nói “ người tại gia giống như Người xuất gia”. Người xuất gia  biết đựơc căn  cơ của Người tại gia, có thể  hướng dẫn  họ về với Đạo mà không đòi hỏi tiền của. Nếu  mưu  cầu  tiền của thì rơi vào tham ái; phải cảm hoá tín chúng tại gia một cách  vô hình. Hai chữ giải thoát không đơn giản; độ chúng sanh cần phải tùy duyên, cần lòng từ bi; không thể đem phương pháp  độ Người xuất gia mà độ Người tại gia. Mong rằng các vị sau này tu hành như chúng tôi, khi có đủ đức hạnh, nói một câu cũng có thể độ được Người. Mặc vào chiếc áo của Người xuất gia  đâu  phải  là việc giản đơn.

Lại nữa, thế nào là Người tội lỗi  lại cần đựơc độ ? Bồ Tát Địa Tạng phát đại nguyện thế nào, tại sao các vị không làm giống như Ngài ? Chẳng qua là việc rất khó. Lời nguyện lớn của Ngài  là  “ Địa ngục còn một chúng sanh, ta thề không thành Phật ”, nếu tâm chúng ta  đều  phát ra thệ nguyện lớn như  Ngài thì  địa ngục có thể không còn chúng sanh.

Trong cõi ngũ trựơc và trong bốn loài, chúng sinh ăn thịt lẫn  nhau, Bồ Tát Địa Tạng  muốn  chúng ta ăn chay là để chấm dứt cái vòng luân hồi sinh tử. Nếu con nói sai, xin Bồ Tát Địa Tạng  tha thứ, con xin sám hối với Ngài”.

 

Sư phụ bảo đại chúng cùng niệm Phật

 

Nam-mô A-Di-Đà Phật

Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát

Nam-mô Địa Tạng Vương Bồ Tát

 

Ngày 12 – 7 – 1974

 

     “Trong xã hội, làm việc gì cũng cần phải giữ chữ tín, không tham lam, tận tâm tận lực, phải thành thực, làm nhân viên giúp việc có hết  lòng thì “cấp trên” mới trọng dụng. Người  phật  tử cũng phải  như thế, đối với chư Phật phải thành tâm kính ngưỡng thì chư Phật mới gia hộ. Làm ăn lớn, hoặc làm ăn với Người nước  ngoài  lại cần phải giữ chữ tín mới được tin cậy, được đề bạt và bồi dưỡng, sự  nghiệp mới dần dần lớn ra, và tiền đồ sẽ xán lạn. Học bác sỹ không chỉ cốt lo bản  thân, mình phải chịu khó mới thành tài, rồi có tận tụy vất vả Người ta mới  tín  nhiệm, tương lai mới sáng sủa. Cho nên, Người nào chịu khổ chịu cực đựơc thì  con  đường tương lai sẽ rộng mở.

Quay nhìn lại, Người xuất gia tu hành cũng như  thế. Chư Phật, Bồ Tát đều dụng công kh? hạnh, không cần phải chọn một nhân tài nào đó, cũng không nhất định phải học trong Phật học viện nào mới thành tựu đựơc. Phật và Bồ Tát đều tu từ khổ  hạnh, thể nghiệm, tôi  luyện  mà  thành

Người tin theo đạo Phật hay Người xuất gia thường bị  thử  thách, đả kích, kích  thích; có bị thử thách như thế mới có thể tu hành đến giác ngộ đựơc. Mỗi Người xuất gia đều có nhân duyên riêng, nhưng không nên cho rằng “vì bị kích thích mà đi tu là dỡ”. Trái  lại, bị kích thích mà xuất gia thì đạo tâm càng kiên cố, bất luận Người xuất gia hay Người tại gia đều cần phải có chí  khí. Người có bị kích động mới nâng cao ý chí tu hành, hay hành sự.

Người đi tu hiện nay ít chịu cực khổ, không biết rằng đi tu cần phải trăm ngàn cay đắng để liễu sanh  thoát tử. Họ cũng không biết vì sao đi tu và tu như thế nào ? Tu sỹ phải chịu kham khổ , làm  những việc khó làm, nhẫn những điều khó nhẫn. Tu sỹ hiện nay không hiểu như  vậy  nên sợ khổ, sợ bó buộc, rồi tự đi cất chùa riêng, kết quả là không lo liệu gì được cho đại chúng. Thực  ra  tự mình còn không biết tự độ làm sao mà độ người ? Do đó người xuất gia chịu khổ để tu, chứ chẳng phải xuất gia để hưởng thụ.

Người tu mà không bàn luận về Phật pháp, chỉ  bàn luận về chuyện thế tục, ấy đâu phải bổn phận của Người xuất gia ? Đem việc gia  đình thế tục áp dụng trong chùa, tập  khí chưa dứt làm sao nói đến việc tu đạo ? Người xuất gia phải tu khổ hạnh, tu giới, định, tuệ. Có một số Người mới thọ giới xong, liền tự cho mình là pháp sư. Thọ giới là phải tự mình giữ giới  luật, trì  giới  mới  phát định phát tuệ; giới,  định , tuệ không phải chuyện dễ dàng, phải nương theo Kinh, Luật, Luận để thực hành. Giới, định, tuệ là : đối  với bốn loài chúng sinh không làm tổn thương, phải  từ  bi, phải nhẫn nhục, phải chịu cực khổ.

Có người đi thọ giới về mang theo lòng tham dục, tính  chuyện  hưởng thụ ăn ngon, mặc  đẹp, ở chỗ tiện nghi; không chịu dũng mãnh tinh tấn. Người thế tục làm ăn muốn cho người  ta  tin  còn phải chịu khó khăn vất vả, phải thủ tín; tu sỹ lại  không đựơc Người ta tin tưởng lý do là vì tham ăn, mặc, ở, chẳng giữ giới  chẳng tu trì, thì làm sao Người ta tin theo ? Chúng ta phải giữ giới, phải chịu khổ cần lao thì tín đồ mới tin tưởng và kính trọng chúng ta .

Có một số tu sỹ kiếm sống như  Người thế tục. Người tại gia biết tụng kinh (hộ niệm), Người xuất gia cũng tranh đi tụng kinh (hộ niệm) với họ, giống như  cạnh tranh nhau làm ăn, hiện tựơng này không tốt, chẳng khác gì “ tôi độ họ, họ độ tôi ”. Sau khi  thọ giới phải gia tăng giữ giới, nỗ  lực hành trì. Trì giới, được Giới Thần  gia hộ các vị, mới mong thoát khỏi biển  khổ. Nếu  như  sau khi thọ giới về lại tranh đi hộ niệm với Người tại gia thì  làm sao có thể độ người đựơc ? Có trì giới, có định – tuệ đầy đủ thì Vi Đà Bồ Tát sẽ gia hộ các vị. Một lời nói ra quỷ thần nghe được cũng thoát khổ, như thế mới gọi là tự độ, độ tha .

Người xuất gia không nên vui mừng được ăn , mặc, ở đầy đủ. Nếu ham hưởng thụ thì dễ sanh ra giãi đãi. Người xuất gia phải nỗ lực tu hành, xem mình có thể liễu sanh thoát tử đựơc không ? Thọ giới là nương vào giới – định – tuệ. Xem khả năng tu hành của mình đến đâu thì an nhiên tự tại, đến nơi nào cũng độ đựơc người, tới đâu cũng đựơc người cung kính.

Người thế tục tu hành tu lợi, còn ở trong thế giới ta – bà là vẫn còn luân hồi, khi  chết đi thần thức đầu thai trở lại. Còn xuất gia là để thoát ly sanh tử. Người xuất gia  lấy  giới  làm thầy, lấy  giới làm thầy là tu đến chỗ Người thấy mình như là thấy Phật, khởi  tâm hoan hỷ  kính ngưỡng. Người xuất gia cần phải có nguyện lực, không nên luyến tiếc thân thể vì  thân thể này không trường tồn  vĩnh cửu .

Xét Người là xem xét lỗi Người để sửa lỗi mình, không nên vì bị chỉ trích mà cho người chỉ  trích  là xấu, họ là thiện trí thức của chúng ta, dù phải hy sinh ta cũng phải độ họ. Phải tu đến chỗ bất sanh bất diệt, hiển lộ chơn tánh.

Tôi không biết chữ, cũng không theo phương pháp giảng dạy nào, nay  nghĩ gì thì  nói nấy, nếu có nói sai xin lựơng thứ cho.”

 

Sư phụ bảo đại chúng cùng niệm Phật

 

Nam-mô A-Di-Đà Phật

Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát

Nam-mô Địa Tạng Vương Bồ Tát

 

Ngày 13 – 07 – 1974

                       

“ Hôm trước tôi nói về tuỳ duyên mà chuyển, ví như niệm Phật thì đựơc Phật chuyển, còn tạo nghiệp thì  bị nghiệp chuyển.

 Hôm nay bàn về Người xuất gia vì sao làm cho người không tin tưởng, và người  tu tại gia vì sao  làm cho người không tin tưởng ?

Người xuất gia ở Đại Lục không có  tục khí  của thế gian. Người xuất gia ở Đài Loan còn  bị  rất  nhiều chướng ngại, cho dù họ là Người đã  xuất gia nhưng tâm trí  họ vẫn còn  vướng bận chuyện  thế tục.

Ở Đài Loan giới nữ xuất gia đông, tâm họ khó quên  chuyện gia đình. Ở Đại Lục Người  nam xuất gia nhiều, và tại sao các tu sỹ từ Đại Lục sang Đài Loan lại khiến cho Người  ta  không tin theo ? Vì Người Đài Loan vốn tin theo Đạo giáo, họ không hiểu gì về Phật pháp, không  tôn  kính  pháp sư.

Nhưng từ khi có các pháp sư từ Đại Lục sang truyền bá Phật pháp, dần dần khiến cho họ hiểu đựơc Phật pháp và kính trọng tăng.

Ngoại đạo dùng nhiều cách mua chuộc, như mua quà tặng hoặc dùng lời mê hoặc. Phật giáo dùng tâm cảm hoá, ngoại đạo dùng hình thức bên ngoài để cảm hoá. Phật giáo  khiến cho người tin là do chỗ không dùng vật chất mua chuộc mà chỉ lấy đạo đức để cảm hoá.

Người thế tục cầu tài cầu lợi, kẻ xuất gia chỉ mong sao chúng sanh bớt tạo  nghiệp, ra khỏi luân hồi sanh tử. Nếu Người xuất gia còn cầu danh lợi thì có khác gì  Người tại gia, làm sao đựơc họ kính trọng.

Có nhiều cư sĩ trình độ đại học tin phật pháp, họ có khả năng giảng dạy, sáng tác. Người xuất gia  chúng ta phải tu khổ hạnh, có giới, định, tuệ, có sức cảm hoá vô hình, như  vậ y  hàng trí thức mới thật tâm kính ngưỡng Phật giáo. Ngược lại, nếu  nhà sư  không chịu tu khổ hạnh  thì  hạng trình độ cỡ sinh viên, hơn mình, làm sao họ có thể kính nễ ?

Thời xưa tăng sĩ bưng bình bát đi khất thực, ai  cũng tự mình tu hành; đã tám vạn  bốn  ngàn  pháp môn tu, ai cũng có  thể  tu bằng công phu riêng của mình, hôm nay trong bát có thì ăn, không có thì nhịn, chuyên tâm  trì chí tu hành để thoát ly sanh tử. Chẳng giống như  nhiều Người xuất gia  thời nay chỉ lo làm sao cất đựơc chùa; đâu phải cất chùa nhiều là thoát vòng sanh tử. Có nhiều Người cất chùa xong không biết để làm gì, không biết là để mình sống qua ngày  hay  để độ sinh ? Nếu để sống qua ngày thì  chỉ cần một cái chòi tranh là đủ, còn như  viện cớ độ chúng thì  họ lại phải kêu gọi cư sĩ giàu tiền ủng hộ, và trở thành có cạnh tranh, chẳng khác nào lợi dụng  Phật và Bồ Tát để kiếm sống. Do vậy mà Người tại gia mất niềm tin và xem  thừơng Người  xuất gia. Cất chùa rồi, nấu ăn ngon để kêu gọi tín đồ, nhìn  thấy ăn uống như  vậy tín đồ hết cung kính. Xây chùa  phải có đức cảm hoá, phải biết giảng dạy, biết viết, làm nổi việc mới khiến cho Người  kính  phục. Người cất chùa hiện nay phần nhiều đức kém, thâu nhận cho có đệ tử, sai đệ tử đi hoá duyên, ngoài ra chẳng hiểu biết gì . Hể có tiền là xây chùa, đối xử  với đệ  tử  như Người  làm thuê, cũng không biết giáo dục như thế nào; lâu ngày dài tháng đệ tử không nghe lời thầy, chỉ muốn bỏ chùa đi  học ở Phật học viện . Nhiều Người đi học Phật học viện bảo là vì “ muốn hoằng pháp lợi sanh ”. Nhưng kết quả học xong có bao nhiêu Người “ hoằng pháp lợi sinh ” ? Tín  đồ tại gia thấy vậy không kính phục, họ bèn vào chùa tổ chức quản lý Người xuất gia. Người xuất  gia ở Đại lục ngày xưa  tu  hành cảm động đến Hoàng đế, vân du khất thực bốn phương, mang y  bát đến nơi nào cũng có Người cúng dường và cung kính. trên “ Tứ đại danh sơn ” ( bốn núi lớn nổi tiếng ) ở Đại Lục chùa nào cũng được Hoàng đế sắc phong. Người tu hành có đức hạnh tự nhiên Hộ pháp Vi Đà gia hộ.

Người chấp sự không được tham lam, dù tham một ngọn cỏ, một giọt nước cũng khó tiêu tội, còn một chút  lòng tham  thì còn mang  nghiệp  chướng. Ở Đại Lục  tăng sỹ  đi  khắp nơi  học hỏi, tu trì từ trong sự khổ hạnh, biết quý trọng của chùa, xem hạt gạo như núi Tu-di, không dùng vật chất giao dịch  với Người tại gia nên không bị xem thường. Muốn đi tu cha mẹ không cho vì nghĩ rằng Người xuất gia tu và Người tu tại gia không khác nhau bao nhiêu .

Người xuất gia bố thí cốt ở sự  cung kính cúng dường, hết lòng hoan hỷ và tự  nguyện; chứ đâu phải đòi hỏi nơi người tại gia khiến họ không vui lòng, để rồi không còn kính trọng tu sỹ. Lại nữa, Người xuất gia  vì thấy tín đồ cúng dường mà không tự nguyện, bèn  lấy vật cúng dường đem nấu nướng để đãi họ, kết quả làm cho Người tại gia không tu phước mà lại tạo nghiệp. Vật đã cúng dường để ở chùa thì  tuỳ nhà chùa sử dụng, Người tại gia không đựơc trở  lại quản  lý  những vật ấy.”

 

Sư phụ bảo đại chúng cùng niệm Phật

 

Nam-mô A-Di-Đà Phật

Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát

Nam-mô Địa Tạng Vương Bồ Tát

 

Ngày 18 – 07 – 1974

 

Người không tin Phật, không đến chùa thì không có cách gì để  hiểu  Phật pháp. Nhiều  loại  cô hồn, ngạ quỷ vốn không tin Phật pháp, vào ngày rằm tháng bảy cũng được siêu độ rộng khắp  (phổ độ), do vì ngày thường không làm phép siêu độ. Thực hành phổ độ là một phương cách  “cứu tế” của đạo Phật.

Siêu độ cho các loài cô hồn, ngạ quỷ thể hiện đức từ bi của Phật giáo. Không phải thí  chủ nào bỏ tiền ra thì mới đựơc siêu độ, dù có tiền hay không tiền cũng đều siêu độ như  nhau. Người có tiền nhiều không nên thị tiền, cho rằng mình cúng tiền nhiều để siêu độ âm hồn của Người khác thì công đức mới lớn. Nhà chùa chúng ta siêu độ  cho mọi  loài âm hồn bình đẳng như nhau .

Bố  thí có ý nghĩa rất thâm sâu. Bố thí không nhất thiết phải bằng tiền của . Nếu không tiền  thì đến  chùa làm công quả cũng là bố thí. Bố thí cũng phải xét có đúng nghĩa hay  không, nếu  bố thí không đúng nghĩa thì không có công đức. Kẻ có tiền làm việc thiện hoặc bố thí, nhưng bỏ tiền ra chưa đáng kể; người không có tiền cũng bố thí đựơc; tiêu xài ít lại, tiết  kiệm một ít tiền  mua rau để bố thí; tiền tuy ít, nhưng so với người nhiều tiền công đức bằng nhau.

     Quy mô chùa Thừa Thiên như thế, phải có nguồn tài chính để xây dựng. Người có tiền nhiều đóng góp nhiều, dĩ nhiên công đức rất lớn, người không có tiền đóng góp ít, hoặc ra sức đi quyên góp công đức cũng không kém.

Người tu hành, nếu đi đến nơi nào cũng đều được người tiếp  đón và cung kính, ấy là nhờ Hộ pháp Vi Đà gia hộ. Người tu hành chân chính không cần phát nguyện xây chùa lớn, Người  chân tu  đi vào núi sâu, dù không chú trọng đến việc ăn, mặc, ở vẫn có Hộ pháp Vi Đà đến gia hộ xây dựng đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh.

Người xuất gia phải hiểu xuất gia là gì, và cần phải vào chốn tòng lâm rèn luyện tu tập; phải làm những việc người không muốn làm, phải như không thấy, không nghe, như câm, như điếc; phải chịu cực chịu khổ, đựơc vậy thì đến nơi nào kiến tập đạo tràng cũng thành công .

Nếu chưa trải qua sự khổ, xuất gia được vài ngày đã muốn đi xây dựng đạo tràng, như  thế rất khó thành công. Người xuất gia phải vứt bỏ những thói quen thế tục, nếu không sẽ bị tham sân si  khuấy  động,  dễ rơi vào tà đạo; cũng không được đem nếp sống thế tục vào trong chùa. Tín chúng nên thừơng xuyên đến chùa học tập, tìm pháp sư chỉ dạy niệm Phật, tụng kinh, ngồi thiền. Nếu đi tu mà không dụng công như vậy, lại chê ăn chẳng ngon mặc chẳng đẹp thì  làm sao đắc đạo ?

Phải biết quý thời gian và gấp  rút tu hành, để ngày tháng trôi qua thật là đáng tiếc. May ra chỉ đựơc thân người, tệ thì khi thân hoại mạng chung sẽ rơi vào ba đường ác làm thân  trâu ngựa, do đó phải nắm lấy cơ hội nỗ lực tu hành, đừng để thời gian trôi qua một cách vô ích.

Phải hướng dẫn cho tín đồ học Phật pháp, làm sao tiêu trừ nghiệp chướng. Không được thấy người giàu có đến chùa vội cấp cho họ chỗ ở tiện nghi, quan tâm lo lắng cho họ  ăn  ngon; như  vậy  thí  chủ chẳng gieo đựơc phước, làm hại cho cả hai bên. Người xuất gia xác  định  bổ phận và trách nhiệm của mình, tạo điều kiện cho tín đồ gieo phước, dứt nghiệp chướng. Cung phụng kẻ giàu  có là làm cho họ tăng thêm nghiệp chướng. Chớ để họ khoe khoang thân thế mà sanh khẩu nghiệp. Đến chùa không đòi hỏi nhà chùa đãi ngộ mình nồng hậu, làm như  vậy  không gieo được phước mà lại tăng thêm tội lỗi. Người tại gia cùng Người xuất gia phải thông cảm hiểu nhau.

Hiện có nhiều Người xuất gia chưa đựơc bao lâu mà muốn xây cất chùa, đi  khắp nơi quyên góp, không những tìm đến  tín đồ Phật giáo, mà còn tới những Người không tin Phật, hoặc ngoại đạo, do đó gây ra nhiều điều thị phi. Xây chùa cho mình hay để độ chúng ? Giả  như  vì  mình  thì không  xây được, hay có xây lên cũng gây  lắm điều  thị phi. Còn vì để độ chúng, nếu  bản thân không tu học, không biết giới luật của Người xuất gia thì  làm sao lãnh đạo được chúng. Người xuất gia phải học chư Tổ ngày xưa tu khổ hạnh, sẽ có ngày thành tựu.

Trong chùa, cùng với đại chúng chia sẻ sự vất vả như  gánh nước, bửa  củi … để rèn luyện. Phải biết thế nào là tu phước, tu tuệ; được phước báo phải đem hồi hướng cho Người khác. Mình  có trí  tuệ phải dùng nó để  hứơng dẫn  quần chúng học đạo, như vậy mới là trí tuệ chân  chánh. Tự  mình không hưởng thụ phứơc báo mới là phước báo chân chính.

Người phước tuệ song tu, phải có lòng quảng đại, nếu nay có lập đựơc chùa Thừa Thiên thì cũng vì mọi người chớ không phải vì mình. Chùa hiện nay được vài chục người, mà dù đến vài trăm người lương thực vẫn đủ, ấy là do xây chùa không phải vì mình mà vì người.

 

 

Sư phụ bảo đại chúng cùng niệm Phật

 

Nam-mô A-Di-Đà Phật

Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát

Nam-mô Địa Tạng Vương Bồ Tát

 

Ngày 19 – 7 – 1974

 

      Ngày xưa so với ngày nay, xét trên phương diện văn tự , học thuyết của Khổng Tử  truyền  báo đến nay đều dùng văn ngôn; người xưa dùng văn ngôn, ngày nay ai  cũng dùng văn bạch thoại. Ngày xưa dùng văn ngôn là vì tôn kính kinh thư, ngày nay dùng văn bạch thoại cho nên đối với nho gia  không trân  trọng. Ngành in ấn bây giờ rất phát triển, kinh thư  viết bằng văn ngôn không còn đựơc quý trọng.

      Người xưa đọc sách để “hiểu lễ đạt đạo”, coi trọng đạo hiếu, tôn kính sư trưởng; học đựơc học thuyết Khổng – Mạnh nên rất coi trọng cha mẹ và sư trưởng, nhờ vậy trong gia đình rất hoà thuận. Người đời nay học vấn tuy cao, nhưng lại xem thừơng luân lý đạo đức; đối với Người trên không hiếu kính, đối với kẻ dưới thiếu lòng nhân từ .

      Phật giáo không chủ trọng về văn tự, nhưng so sánh tam giáo Nho Phật Lão thì : đạo Nho đề cao trung hiếu, có văn tự ghi chép; đạo Phật cũng có rất nhiều kinh điển, nhưng về phương diện tu trì có thể không đọc kinh điển; đạo Nho dựa vào sách Tứ thư-Ngũ kinh mới thành thánh hiền; còn tổ sư  các đời  của Phật giáo đều dựa vào sự tu trì, không nhất thiết phải đọc kinh mới thành Phật, thành Tổ.

      Khi người thầy nói có thể dùng văn tự ghi lại, lấy đó để hiểu rõ lời của bậc thánh  hiền xưa; tuy  khi giảng thầy không dùng văn tự, nhưng có thể ghi chép  lại  nhằm giúp  hiểu  rõ ý  nghĩa lời giảng hơn .

Giảng và ghi chép có chỗ khac nhau, thầy  nói điều gì thính chúng đều có thể hiểu, song Người có trình độ sẽ ghi lại sâu sắc, Người thông minh thì hiểu được thâm thúy  hơn. Lời  thầy  nói ra thừơng chưa hết ý, qua lời Người  phiên  dịch  lại ắt có chỗ không khớp hợp .

Xem kinh điển cũng như thế, ngày xưa đức Phật thuyết  pháp  không ai ghi chép, về sau Tôn giả A Nan cùng các vị khác nhớ và kết tập lại. Khi đức Phật nói, Ngài  cảm hoá nhiều người, hậu thế kiết tập Kinh Luật Luận phải dùng văn tự để ghi chép, vậy mà Người đời sau xem Kinh Luật Luận cũng được cảm hoá, đủ thấy  văn  tự quan trọng đến mức nào.

Nói đến việc tu hành, không phân  biệt xưa và nay, tu là chịu cực chịu khổ, đồng thời phải trải qua bao nhiêu kiếp. Như đức Phật Thích Ca xưa kia, Người cần mắt Ngài cho mắt, Người xin mũi Ngài cho mũi; hy sinh như  vậy trải nhiều kiếp Ngài mới thành  Phật .

Nho giáo đề cao trung và hiếu, đạo Phật cũng xem trọng “tứ duy, bát đức” [ lễ, nghĩa, liêm, sĩ và hiếu, để, mục, nhân, nhậm, tuất, trung, hoà. –ND ]

Giá mà những người học Phật biết thực hành “tứ duy bát đức” của Nho giáo, và  Người dân trong nước được học Phật pháp, đem giáo lý Phật-Đà bồi dưỡng tâm tính  của mỗi người, thì xã hội được an bình, quốc gia đựơc giàu mạnh. Trong xã hội, phần nhiều Người ta coi trọng tiền của, Người  học thức cao phẩm hạnh tốt chỉ vì không tiền mà bị mọi Người khi dễ. Một xã hội  như  thế làm sao tiến bộ và phát triển được.

Ở Đài Loan Người đi tu rất đông. Sau khi xuất gia, đúng ra sư  phụ phải dạy  tu hành  ra sao, cực khổ cần lao như thế nào. Song hiện nay, ni cô xuất gia lại cốt đi học để  kiếm bằng cấp;  ni cô được đào tạo như thế thì biết gì tu hành, chẳng  qua  đem tập  khí  thế gian  vào cửa Phật, ảnh  hửơng xấu đến nhiều người xuất gia khác.

Bậc tối cao ngày xưa là hoàng đế, hoàng đế lại rất kính trọng nhà sư, thậm chí nhà sư  thấy hoàng đế không quỳ lạy như Người dân, và có nhiều vị được hoàng đế sắc phong. Hoàng đế quý trọng Người xuất gia là căn cứ vào đức hạnh tu hành của ho ; sau khi sắc phong, đựơc sự tôn kính của mọi Người trong nước .

Về mối quan hệ giữa  Người thế gian và Người xuất gia. Có tu sỹ bám theo kẻ có chức quyền, kết giao với quan viên, rồi dính dáng vào việc chính trị . Đã xuất gia  thì không kết giao với kẻ cầm quyền. Người tu hành đức độ tự nhiên cảm hoá đựơc họ. Người tu hành chân  chính không dễ gì ai nhận ra; mãi đến khi tu trì thành tựu mới có thể cảm hoá đựơc nhiều người, cả những Người không không tin Phật pháp. Đó mới là chánh nghiệp của sa-môn, đó mới gọi là độ chúng sanh, mà độ chúng sanh thì  không nên kết giao với kẻ chức quyền .

Đi tu là nhờ thiện căn dẫn dắt theo Phật và thọ giới. Nhưng hiện nay, nhiều Người xuất gia do vì thấy giới tu sỹ được sống hưởng thụ. Hôm nay xuất gia, ngày mai thọ giới, vậy là sai trái; Người xưa xuất gia phải trải qua nhiều gian nan thử thách mới được thọ giới . Người xuất gia  hiện  nay  thọ giới không phải  thọ “tam đàn đại giới” mà là thọ “danh lợi giới”, bởi vì sau khi thọ giới  họ thừơng bàn chuyện  lợi danh, chẳng quan tâm gì đến việc tu hành.

Hiện nay, tới giới tràng tức là thọ giới, ra khỏi giới tràng không còn giới, vì giới  tử  không biết thế nào là sám  hối, tự cho rằng sau khi thọ giới thì được làm “đại pháp sư”. Đúng ra, chưa  đi thọ giới cần phải khổ học khổ tu, sau khi thọ giới rồi, phải sám hối và tinh  tấn giữ giới; nếu vừa ra khỏi giới đàn làm ngay “đại pháp sư”, tỏ vẻ phô trương, đi đến đâu cũng muốn làm  thầy  Người ta, như  vậy chỉ đưa Phật giáo đến con đường  cùng .

Nói đến tình trạng truyền giới hiện nay, Người nào cũng đi thọ giới được : ông già  bà cả, kẻ khuyết tật, ở đền nào miếu nào không cần biết, miễn có tiền là đựơc; sau khi thọ giới  về chùa  không ai quản lý .

Nên nhớ rằng truyền giới phải rất thận trọng, không được tùy  tiện .

Người chưa thọ giới nhìn thấy Người thọ giới trở về ra vẻ ta đây là pháp sư, điều khiển chỉ  đạo mọi việc, trông thật oai vệ, liền gấp rút xin đi thọ giới !

 

Sö phuï baûo ñaïi chuùng cuøng nieäm Phaät

 

Nam-mô A-Di-Đà Phật

Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát

Nam-mô Địa Tạng Vương Bồ Tát

 

Ngày 20 – 7 –1974

 

Sư phụ giảng về vấn đề sống và chết :

“Chúng sanh từ đâu đến và chết đi về đâu ?”

 

Một Người vì không thoát khỏi vòng luân hồi ? Bởi vì, con Người tuy là tánh linh  của vạn vật, nhưng nếu không tu luyện thì chẳng khác gì các loài động vật khác, Người  có khả năng tu hành mới thoát được sanh tử .

Xét theo luật nhân quả, nhiều kiếp trong quá khứ từng làm heo làm chó đến nay  mới làm người, được làm Người là điều rất khó. Các động vật khác trong bốn  loài bị tham, sân, si che lấp rất khó tu hành, chỉ có con Người mới có lý trí, mới đủ khả năng để  khắc phục dục niệm. Đó là chỗ mà các động vật khác đối với việc tu học Phật pháp không thể sánh được  với con người. Tham dục của loài Người rất lớn, do tư duy  tiến hoá  và văn minh vật chất làm cho tham dục ngày  càng gia tăng; ăn thì muốn cao lương mỹ vị, mặc thì muốn vải vóc sang trọng. Tham muốn  càng nhiều thì niềm tin vào sự tu học Phật pháp càng giảm đi, làm sao thoát khỏi  biển  khổ, thật đáng thương xót .

Trong bốn loài chúng sanh có rất nhiều động vật sống theo quy luật tự  nhiên, như  trâu bò ăn cỏ, nhện giăng lứơi …., chúng sống rất đơn giản. Con Người nguyên thuỷ cũng sống rất đơn giản. Nhưng khi xã hội phát triển, cha mẹ chỉ biết lo cho con cái, chỉ vì đàn con cháu hết thế  hệ này đến thế hệ khác mà suốt ngày  tất tả vội vàng, phí cả một kiếp sống, không biết tu hành, nên sẽ vẫn mãi lăn lộn trong sáu nẻo luân hồi. Trong xã hội ngày nay  có hiện tựơng : người ta không hiểu mình sinh ra con cái để làm gì, lỡ làm cha làm mẹ thì  phải giáo dục con cái. Cha mẹ dù đã dốc sức dạy con điều thánh thiện, nhưng rất nhiều đứa con bất hiếu, thậm chí còn làm chuyện  tà ác. Sau khi được nuôi nấng dạy dỗ liền rời bỏ cha mẹ đi tìm sự  hưởng thụ ; không biết hiếu thảo đền đáp công ơn dưỡng dục, khiến cho cha mẹ phải chịu cảnh neo đơn cô độc .

Kết giao với bạn bè phải thành thật, có tình có nghĩa. Không nên coi trọng tiền tài thân nhau vì tiền – mà phải lấy nhân nghĩa cư xử với nhau. Thời xưa, bạn hữu giao tiếp với nhau rất trọng nghĩa khí. Nếu từ phương xa đến thăm bạn mà chỉ có vợ bạn ở nhà, chồng đi vắng thì  liền tránh đi nơi khác. Còn bây giờ, ở xa đến thăm nạn, bạn đi vắng chỉ  có vợ ở nhà, bèn nhân  cơ hội thích thú trò chuyện với vợ bạn, không biết ngại ngùng “một nam một nữ gần nhau”, như vậy làm sao sánh đựơc nghĩa khí của Người xưa .

Dục vọng của con Người ngày càng trầm trọng, sinh hoạt của các loài động  vật khác có tiết độ thời gian, con Người thì  không như  vậy, lúc nào cũng đầy lòng tham muốn. Do đó mới xảy ra biết bao vụ án mạng, cướp bóc khiến cho xã hội bất an. Cho nên con Người cần  phải giảm bớt lòng tham, để tâm tìm hiểu và tu theo Phật pháp, được vậy xã hội mới an bình, con người mới mong thoát khỏi luân hồi.

Chúng ta xuất gia, mặc áo nhà tu, đã thọ giới, là biểu tượng thầy  của trời và Người, phải làm thế nào cho đồng loại tôn  kính; muốn vậy  thì không đựơc tham dục, phải dứt bỏ mọi tập khí thế gian, phải nổ lực tu khổ hạnh, khiến cho Người thế tục cảm động quy ngưỡng, như  thế mới mong độ đựơc họ, độ đựơc chúng sinh.

Chư Tổ ngày xưa dạy chúng ta phải buông xả tất cả, vứt hết rác rến trong tâm, không nhiễm tập khí nào của  thế tục, tâm  hồn trong sáng không dính bụi trần, như  vậy mới giúp cho sự tu hành của chúng ta đạt kết quả. Sở dĩ phải dứt trừ tập khí vì  tham, sân, si che khuất bản tính chân như. Tâm hồn không trong lắng, bản lai diện mục chẳng bao giờ tiến bộ.

Mục đích của người tu hành là đắc đạo, phải tu chứng bản tính Chơn Như  bất sanh bất diệt. Pháp môn tu trì của ngoại đạo còn có sanh có diệt. Nếu chúng ta đạt đến Chơn Như  thật tướng thì  thoát khỏi biển khổ.

Ngoại đạo thể hiện thần thông bằng đồng bóng, cầu cơ …., đều  là những điều huyễn hoặc; đạo Giáo (đạo Lão)  thì bày phép  trừ bịnh để sống lâu. Đạo Phật không như họ, không  cầu trường thọ không chứng tỏ thần thông, không làm các việc huyễn hoá hư ngụy, mà chỉ thực cầu Chân Lý .

Xưa và nay bất đồng, hai bàn tay của Người xưa “vạn năng”, tay chân và đầu não được dùng đều. Xã hội thời nay tiến bộ, con người chỉ  vận dụng đầu óc, rất ít dùng chân tay. Vậy  thì  ta phải vận động thật nhiều, phải chịu cực khổ, nhất tâm quyết chí tu hành.

Nhân loại hiện nay giết hại, tranh đấu lẫn nhau mà tự chuốc lấy hoạ diệt vong, tự gây  nên nghiệp ác, - chẳng hạn như các nứơc trên thế giới chế tạo vũ khí giết Người ngày càng tinh xảo, do đó càng làm tăng thêm tội ác của loài Người. Cuối cùng chỉ  còn hy vọng là mọi Người  biết niệm Phật, sớm cầu giải thoát.

 

 

Sư phụ bảo đại chúng cùng niệm Phật

 

Nam-mô A-Di-Đà Phật

Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát

Nam-mô Địa Tạng Vương Bồ Tát

 

Ngày 11 – 12 - 1975

 

Pháp sư  Sám Vân  đến thăm, hỏi sư phụ : “ Pháp thể Hoà thượng trông rất khoẻ mạnh, tinh thần minh mẫn, không như cụ già 80 tuổi. Xin được hỏi, trứơc giờ Ngài không dùng thức ăn nấu như  Người thường, làm sao giữ được thân thể khoẻ mạnh như  vậy ?” Sư  phụ đáp :

“Trứơc đây, khi tu khổ hạnh một thân một mình ở trong núi sâu, ăn hết mấy  mươi  cân  gạo mang theo, lại không có tiếp tế, không biết phải làm sao, chỉ còn cách ăn trái cây  rừng, rau  dại, rễ cây để duy trì mạng sống, chứ  nào phải vì tu hành buộc phải ăn như vậy.

Hiện nay là lúc tôi độ chúng, phải thích nghi với mọi Người, nên tôi không còn sống như trong núi ngày ngày ăn rau dại, rễ cây. Tôi là kẻ phàm phu, nên  cũng ăn như  mọi Người. Có điều, trong tín chúng ngày nào cũng có Người đem cho trái cây nên tôi ăn chút ít trái cây để duy trì cái bao bị da thịt hôi thối này; và cũng uống chút ít sữa, như thế không thể nói “không ăn uống như Người thừơng”, đó là Người ta đồn đại về tôi vậy thôi”.

Có phật tử thưa : “ Đệ  tử có ý định cuối tháng tám mùa thu này bắt đầu tập tu  thiền định, xin Sư  phụ chỉ dạy cho con phương pháp”.

-                 “ Tu thiền định trước hết cần phải biết căn cơ, tức là tự  thân có căn cơ tu  thiền được hay  không ? Nếu như  tâm không định tĩnh đựơc thì tu thiền sẽ dễ khởi phiền não, thà  rằng không tập còn tốt hơn. Lại nữa Người tu tập thiền định, trước hết phải xa lánh chỗ ồn ào, không mang trong lòng bất cứ một sự sợ hãi nào, lúc ấy  mới bắt đầu tập thiền đựơc. Hiện nay, thấy  nhiều Người ngồi thiền dưới mái hiên, dưới gốc cây, cũng mang tiếng là hành thiền, thật buồn cười. Đó chỉ là hình thức bề ngoài, sao có thể nói là tu thiền ? Kế đến, tu thiền cần phải xa lánh  thành thị thôn xóm, phải ở nơi hoang dã vắng vẻ; tĩnh toạ một thời gian, thể nghiệm xem tiếng trùng kêu chim hót, gió táp mưa sa…. đủ loại âm thanh có nhiễu loạn tâm mình không ? Có làm kinh động, gây  phiền não hay không ? Thấy rắn rết, dã thú có sợ không ? Thấy như không thấùy , biết nhưng vẫn định tĩnh, như thế mới có thể tu tập lâu dài. Lại như  “nhập thất niệm Phật” là cốt làm cho Người tu  tập  định tĩnh, nhưng rồi có thành tựu theo dự kiến ? Nếu không thì  mỗi lần vô thất như thế không có tác dụng. Còn nếu trong lúc niệm Phật “nhất tâm bấn loạn”, như  vậy mới đúng là niệm Phật tam- muội, đạt đến niệm Phật tam-muội thì Tây phương Tịnh độ hiển hiện trong tâm. Trong lúc niệm Phật  “niệm  mà không niệm”, ấm thức (thần thức) của hành giả, -  còn gọi là A-lại-da thức, ngay lúc ấy hoà nhập  với Hư  không, có thể thấy Tây phương Tịnh . Thực ra, cõi Tịnh độ có bao giờ xa lìa  tự tánh.

Trong lúc tĩnh tâm hay khi niệm Phật không trụ vào tướng, không khởi niệm thương-ghét-lấy- bỏ, không nghĩ đến thành bại, lợi ích, không sanh tâm thiện, không khởi tâm ác, - tất cả đều trở về hư không tịch tĩnh thì mới hiển lộ đựơc chơn tâm.

Tu tập thềin định không phải là ngồi trơ ra, ngồi trơ ra  thì  khác gì gỗ đá, chỉ  như  một tảng đá to bít động, dù trải qua 2000 năm chăng nữa cũng chỉ là một tảng đá ngoan cố mà thôi; do vậy, tu tập thiền định không có một hình thức nhất định. Bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi đều có thể  là thiền , -- do tâm thanh tịnh . Trước hết phải xoá bỏ, cho đến khi không có gì để xả  bỏ thì  mới gọi là tu thiền. Nếu còn chút gì vứơng mắc thì chẳng phải là thiền. Hiện nay nhiều Người hay tới hỏi tu thiền như thế nào ? Nhưng họ là những Người có gia đình, đang bon chen trong danh lợi thì làm sao có thể tu thiền đựơc ? Đến như  Người xuất gia mà suốt ngày vì danh lợi, vì lo ăn  lo ở, sự tu thiền của họ làm sao đạt tới định  tam – muội ?  Chẳng qua là dối Người đấy thôi.”

Pháp sư  Sám Vân hỏi : “ Nghe nói Ngài dùng nứơc trì Chú Đại Bi cứu được  nhiều người khỏi bệnh, điều ấy có thật không ?”

-           Tôi  làm gì mà biết chữa bệnh, đó là vì nhiều Người  tin “ nứơc phép Đại Bi ” có thể trị hết  bệnh, họ thành tâm đến cầu xin thì tôi chú nguyện cho họ, còn  như  công hiệu hay  không là do họ có thành tâm hay không, và do sự gia hộ của chư Phật – Bồ Tát ấy gọi là “ tin thì thật, thành thì linh”. Thực ra mọi Người đều có thể niệm Chú Đại Bi vào trong nứơc để trị bệnh, có điều là Người niệm cần phải thành tâm mới đựơc.

-           Người ta nói Hoà thựơng có thần  thông, có đúng vậy không ?

-           Điều ấy là do Người ta nói, còn tôi chỉ là một  tăng nhân  bình thường, bản  chất  dốt  nát, không biết chữ, không biết  tụng kinh  thì  lấy đâu ra  thần thông? Nói như vậy không sợ thiên hạ cừơi sao ?

-            Xin mạn phép hỏi Hoà thượng :  Nghe nói Ngài độ rất nhiều tín chúng, thật đáng khâm phục,  không biết có bao nhiêu Người đã đựơc độ ?

-            Nói ra thêm thẹn, tôi rất áy náy, tôi không có đức độ, lại kém tu trì, Người  quy y  tuy  nhiều mà kẻ được độ rất ít, đó là điều rất đáng tiếc cho tôi. Nói cách khác, không phải  là đại chúng không thể độ được, nhưng vì tôi không có sự tu trì, không đủ đức độ để cảm hoá đại chúng.

-             Hoà thựơng quá khiêm tốn, hiện nay ai mà không biết Hoà thượng đạo cao đức trọng, đệ tử hàng ngàn hàng vạn, trong và ngoài nước rất ngưỡng mộ. ( Pháp sư  Sám Vân chỉ mấy vị đứng gần Hoà thượng, hỏi tiếp :) Quý vị đây có phải là những đệ tử mới xuất gia ? Kính thưa Hoà thượng, qúy vị đây đều có căn cơ tu hành thành tựu ?

Sư phụ nói :

-    Họ đều rất tốt, ai cũng có thiện căn, chỉ cần “trút bỏ hết” là thành tựu

  

HÒA THƯỢNG KHAI  THỊ CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC

 

         Có một sinh viên theo Đạo giáo hỏi Ngài : “ Con học Phật đã nhiều năm, kinh điển tuy biết chẳng nhiều, nhưng thấy đa số Người học Phật mở miệng  ra là nói “liễu sinh tử” ( hết sống chết ), mà trong kinh điển đức Phật Thích Ca chẳng hề dạy chúng ta “liễu sinh tử”

         Sư phụ đáp : “Tôi không biết cậu đã đọc những kinh gì, và tôi cũng không hỏi cậu đã đọc những bộ kinh nào; còn như  bảo rằng trong kinh Phật không nói đến “liễu sanh thoát tử” thì  đó là do cậu xem kinh mà không cầu hiểu nghĩa , cậu nên đọc kỹ lại kinh mới thấy  được trong mỗi bộ kinh đức Phật đều muốn cho chúng sanh được “liễu sinh thoát tử ”.

         Một sinh viên khác hỏi: “ Hoà thượng hiện nay là Thái sơn, Bắc đẩu của Thiền tông. Đạo giáo cũng có “ngồi thiền”, trước đây tuy con có học qua nhiều cách “thiền khí công” trong Đạo giáo, vậy mà về lời dạy “Minh tâm kiến tánh” của Thiền tông Phật giáo con chẳng hiểu cứu cánh của nó là gì. Xin hỏi Ngài,  làm sao mới có thể  “ Minh tâm kiến tánh ? ” – Sư  phụ nói :

-           Tôi nào phải Thái sơn Bắc đẩu của Thiền tông gì đâu, tôi chỉ là một Người  tu khổ  hạnh, ăn chay lúc mừơi mấy tuổi, xuất gia theo đạo Phật, vào rừng sâu sống kham khổ  nhiều năm, chẳng  qua chỉ  là một Người phàm phu bình thường. Học Phật, muốn đạt đến chỗ “minh tâm kiến tánh”, quan trọng nhất là phải buông xả tất cả. Nay cậu vừa học Đạo giáo lại muốn học Phật tu  thiền thì chẳng bao giờ có thể đạt được “kiến tánh thành Phật”; vì cậu lấy tinh thần Đạo giáo để  học Phật, vậy là “chấp ngã”quá nặng, do đó không thể  “minh tâm kiến tánh”,  lại còn “bắt cá hai tay” đó  là điều rất nguy hiểm.

-           Con nghĩ rằng ra sức tu thiền theo Đạo giáo làm cho thân thể mạnh khoẻ, thân thể mạnh khoẻ mới có thời gian nhiều để học Phật, nên con học cả hai để mong được kết quả nhanh chóng.

-            Điểm này cậu lại sai rồi, Người học Phật trước  tiên phải có tinh thần quên mình và hỷ xả, cái gọi là “ liễu sanh thoát tử ” ý nghĩa cũng như vậy. Chúng sanh từ  vô thỉ đến nay, luân hồi trong sáu nẻo, nếu chấp thân này là của mình thì khó thoát khỏi con đừơng sanh tử. Cậu đã luyến tiếc bản thân, muốn nó mạnh khoẻ để học Phật, thì ngay cả Tiểu thừa cũng khó vào được huống hồ là Đại thừa ? Đại thừa lấy xả thân để thực hành hạnh nguyện Bồ-tát. Huống nữa cậu  đang tìm  kiếm, tới lui giữa Đạo giáo và Phật giáo, chắc chắn chẳng được cái gì cả, không phải là việc làm đứng hướng.

Sư  Truyền Hải hỏi : “Tu hành phải như thế nào ? Xin Sư  phụ chỉ dạy con”. – Sư  phụ đáp :

-             Tôi không biết tu hành, tôi chỉ biết khổ hành  (hạnh), chỉ  biết dụng khổ công. Chư  Tổ ngày xưa dạy chúng ta dụng công khổ hạnh; Phật không cùng “học” cũng không dùng “tu”, chỉ xả thân khổ hạnh, từ trong khổ hạnh mà chứng đạo.

 

         Ngày 16 – 3 -1978

    Cư sỹ Vương Trưng cùng với anh sinh viên tên Hà Kiệt dẫn một Người Mỹ tên P. King đến thăm, xin Sư phụ cho biết về cuộc đời tu hành của Người. Sư  phụ trả lời: “ Xin hỏi cư sỹ Lâm Giác Phi thì rõ ”

        P. King nói : “ Thưa Sư phụ, Sư  phụ mạnh khoẻ ! Sư phụ đã cao niên  mà trông vẫn rất mạnh khoẻ ”

Sư phụ nói :

-           Con Người cũng giống như  thân cây, lâu ngày thì bị mọt ăn.

-           Ngồi thiền , Sư phụ có ấn định thời gian sớm, tối không ?

-           Nếu có chia ra sớm, tối thì không phải là ngồi thiền, đã dụng công thì  không  phân  biệt sớm tối.

-           Khi con ngồi thiền nếu có một niệm khởi lên, con không “nhìn” hoặc  “theo dõi” nó, chẳng hề “ để ý ” đến nó, nhưng có “chú ý”.

-           Như  vậy anh còn có cái “ chú ý ”.

-            Làm thế nào mới có thể không chú ý ?

-           Như  vậy anh còn có niệm “ làm thế nào ”.

-           À ! vẫn còn cái “niệm”.

Cư sỹ Vương đưa tấm hình chụp Pháp sư  Từ  Hàng và ảnh tượng  đức Phật Di Lặc cho Sư  phụ xem, nói :

-           Đức Phật Di Lặc từ  bi ở ngay trong tâm chúng ta.

-             Còn “tâm” (nghĩ) “Phật Di Lặc từ bi” là còn chấp.

Người Mỹ lại hỏi :

-           Xin Sư  phụ dạy cho con hiểu thế nào là “Phật tri”, “Phật kiến” và “thân kiến” ; tu  như  thế nào mới có thể thành Phật ?

-           Còn có cái “tôi” dạy “anh” học, thì không được; còn có cái “ tôi đang như bất động ”, còn  cái “tôi” vẫn không đựơc. Anh còn có tướng thân, còn có cái “học” thì vẫn  không được. Không có cái “tôi” đang làm gì, cũng không có cái “tôi” đang như  bất động.

Sư  phụ  hỏi : “Anh đang uống trà nói chuyện, vậy Người đang uống trà là ai ?”

-           Người khát nước đang uống.

-           Người khát nứơc là ai ?

        Cư sỹ Vương nói xen vào :

-           Ấy là nói chung với mọi Người hay nói riêng anh bạn Mỹ này ?

-            Vấn đề chẳng phải là nói với ai, Người hiểu được thì hiểu ra, thông một lý thì  vạn lý  đều  thông.

P. King lại hỏi :

-             Theo giáo lý “ không ta, không người, không chúng sinh, không thọ mạng” trong kinh Kim Cang mà tu có được không ?

-             Anh vẫn còn câu kinh Kim Cang -“ không ta, không Người, không chúng sinh, không thọ mạng”- còn có cái  “ta” để mà tu , vậy  là còn có một cái “ ngã ”.

-             Có nên y theo câu của Lục Tổ Huệ Năng “ Vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm ” ?

-            Được, nhưng anh còn có một câu vẫn không được.

-           Nghe Người ta nói niệm Phật chứng được tam-muội , ngồi thiền có thể nhập định ?

-           Anh còn “ nghe Người ta nói ”, vẫn còn là “anh”.

-           Con nghe nói Sư phụ đã chứng “niệm Phật tam-muội”, ngồi thiền có thể nhập định.

-           Anh nói với tôi thì tôi còn có cái để căn cứ, nếu là Người khác nói thì tôi không biết. Dù đông hay ít người khởi lên niệm Phật, ai cũng có chủ ý, niệm đến khi  tâm định, dứt loạn …. hốt nhiên tiếng niệm Phật vang vọng thấu dưới đất. Tuy chúng ta không “ở dưới đất“ niệm  Phật, nhưng  vẫn có tiếng niệm Phật “dưới đất”, niệm đến khi âm thanh điều hoà …, hốt  nhiên âm thanh  lại bay  bổng lên giữa từng không trung, như thể mọi người đang ở trên hư không niệm Phật. Cái gọi là “ khắp hư không đều là âm thanh niệm Phật ”; ấy là trạng thái “ niệm Phật tam-muội ”.

Người Mỹ hỏi : “ Cảnh giới như vậy kéo dài được  bao lâu ? Một tuần, nửa tháng, một tháng hay nửa năm ? ”

-           Bất luận thời gian bao lâu, âm thanh niệm Phật cũng vẫn giữ như vậy. Dù có tiếng chim kêu, tiếng xe chạy, hay các tạp âm khác, tất cả đều trở thành “Phật thanh”. Nếu như  anh còn phân biệt tiếng chim kêu, tiếng xe chạy . . . thì cảnh giới ấy biến mất. Hiện nay nhiều Người niệm Phật chỉ miệng niệm mà tâm lại chạy đi chỗ khác. Đó là “tạp niệm Phật”, “tán tâm niệm Phật”.

-           Đồ đệ của Sư phụ rất đông, có Người niệm Phật A-Di-Đà, có Người niệm chú Đại Bi, có Người niệm Quan Âm Bồ Tát … anh quay sang hỏi Sư  Truyền Tịnh : “ Sư phụ dạy cho Thầy niệm gì ? ”

-           Sư phụ dạy chúng tôi niệm Phật -Di-Đà.

Sư  phụ nói với người Mỹ :

-           Sự  tu tập của anh khá đấy, có nghiên cứu một chút về tu thiền, anh hỏi tôi, nên tôi mới nói về tu thiền như  thế. Còn những Người bình thường khác tới hỏi tôi, tôi đều dạy họ niệm Phật.

-           Con và Sư  phụ “ tâm ấn tâm”.

-           Anh còn cái tâm, cái ấn , còn có “tâm ấn tâm” thì  vẫn còn có cái ngã ; tâm nằm ở nơi nào ? Ba người đến đây hỏi tôi, tôi còn nói chuyện với ba Người, các vị đi  rồi  tôi cũng không có, không có anh nói với tôi gì cả .

-           Sư phụ là một đại thiện tri thức đại triệt đại ngộ .

-           Đó là anh nói, tôi có làm gì đâu .

-           Sư phụ, Ngài là vị minh sư  rất khéo khai ngộ cho đệ tử .

-           Đó là anh nói,  tôi không nghĩ  như vậy .

-           Hồi còn ở Mỹ chưa đến Đài Loan, con  cứ  tưởng Sư phụ ngồi nhập định thì trơ ra như phổng, sau khi hội kiến  mới rõ Sư phụ là bậc Thầy “ biện tài vô  ngại” và rất là hoạt bát.

 

Nam-mô A-Di-Đà Phật

 

TÔI CÓ NHÂN DUYÊN VỚI HÒA THỰƠNG QUẢNG KHÂM

Lâm Giác Phi

 Tháp Phi Lai chùa Thừa Thiên

 

        Năm Bính Tuất (1966) sau tết Đoan Ngọ, tôi từ  Vĩnh Xuân tỉnh Phúc Kiến đến Tuyền Châu thăm anh Vương bạn học cũ – báo cho anh biết tôi sắp qua Đài Loan bằng đường biển, Vương tán thành, đồng thời bảo là anh có chiếc thuyền buồm thừơng xuyên qua lại giữa Tuyền Châu và Đài Loan, tiếc  rằng thuyền đã rời bến hôm trước, mời tôi hãy đến ở  tạm nhà anh, đợi thuyền về rồi sẽ đi ; thế là tôi phải ở lại chờ .

Tôi vốn ưa thích phong cảnh, thích đi xem các danh lam thắng tích cổ kính. Sáng hôm sau tôi đến chùa Thừa Thiên, chùa này nằm trong thành Tuyền Châu. Hơi lệch về cửa đông thành có ba ngôi chùa lớn ( Thừa Thiên, Khai Nguyên, Sùng Phước ) là những chùa Phật cổ nhất. Tôi đi từ đại lộ phía nam đến chùa Thừa Thiên, tới trứơc cổng chùa thấy trên vách có bốn chữ  lớn “ Nguyệt đài đảo ảnh ” (bóng trăng chiếu ngược), bên trong có nhiều con rùa đá  lớn. Qua khỏi điện Tứ  Thiên Vương, lần theo con đường đá xanh, qua khỏi cầu hồ phóng sanh, thì đến sân trứơc Đại Hùng Bảo Điện. Gần hai bên đừơng đi có hai cái tháp đứng đối diện, kiến trúc giống hệt nhau chỉ khác ở chỗ một tháp thì rất sạch, có thể nói “hạt bụi cũng không dính”, nghe nói ruồi đậu trên đó đều quay đầu xuống dưới, chẳng bao giờ quay đầu lên trên; còn tháp kia thì đầy dẫy phân chim, dơ bẩn vô cùng .

Theo truyền thuyết, xưa kia trong chùa có một vị tăng ngày ngày chuyên làm những việc lao động rất cực nhọc mà lúc nào cũng tươi cừơi vui vẻ. Một hôm bỗng có chiếu chỉ triều đình ( không rõ Triều nào) truyền đến chùa báo rằng : Đức vua nằm mộng thấy Thái Hậu bảo thỉnh vị cao tăng đắc đạo ở chùa Thừa Thiên thành Tuyền Châu – PHÚC KIẾN đến kinh thành để siêu độ cho Bà. Chùa liền tuyển chọn một số tăng đủ oai nghi đức độ vào triều siêu độ cho Thái Hậu. Lúc sắp lên đừơng, vị tăng lao công bỗng bước tới xin được cùng đi, chư  tăng nói : “ Ông không biết gì về phật sự làm sao đi được ?” Vị tăng lao công đáp : “ Tôi tuy không rành Phật sự  nhưng có thể mang vác hành  lý cho các vị ”. Chư  tăng cảm động vì ông ta hằng  ngày nghiêm cẩn lao khổ, đồng ý cho đi .

Đến kinh thành, tới trước cửa Ngọ môn, nhà vua tuyên vời chư  tăng vào triều. Các vị tăng đều vào hết, chỉ riêng vị tăng lao công đứng yên bất động. Vua hỏi vì sao không vào, tăng đáp : “ Dứơi đất có Phật không dám vô lễ bứơc qua”. Vua phán phải vào, tăng bèn chống đầu xuống đất, hai chân đưa lên trời, nhảy ngược mà vào. Vua lấy làm lạ sai Người đào đất lên thì thấy có một bộ kinh Kim Cang. Đến lúc đó nhà vua mới biết Thái Hậu muốn thỉnh vị cao tăng này. Vua liền  đích thân ra tiếp đãi một cách thành kính. Vua thỉnh ý tăng : Lúc làm pháp siêu độ cần chuẩn bị như  thế nào ? Đáp : “ Trừ việc chư tăng làm đúng theo nghi thức siêu độ ra, nên lập riêng một cái đài, trên bày hương án, chính giữa có treo phương linh vị của Thái Hậu ”.

       Đang lúc cử  hành pháp siêu độ, vị tăng lao công đột xuất mời nhà vua lên đài, còn mình thì cầm phướng phất ba lần  mà tụng kệ rằng :

 

Ta vốn chẳng đến

Người có lòng thành

Một niệm không sanh

Siêu sanh thiên quốc

 

        Nhà vua bổng thấy Thái Hậu hiện ra trong vừng mây, lạy tạ vị tăng rồi từ  từ  bay lên. Khi pháp sự  hoàn tất, chư  tăng từ  giã ra về, vua riêng giữ  vị tăng lao công ở lại, đồng thời đích thân đưa đi du ngoạn ở ngự  hoa viên và các cảnh đẹp trong  kinh đô. Một hôm đi ngang qua một tháp đá, tăng bỗng dừng lại chăm chú  nhìn cái tháp, vua hỏi :

-           Sư  thích tháp này không ? Trẫm sẽ sai Người bổ rời ra chở đến chỗ sư  ở “. – Vị tăng đáp :

-           Nếu bệ hạ bằng lòng tặng cho thì bần tăng xin tự  lấy về. Nói xong  phất tay áo một cái, tháp liền thu vào trong đó, rồi chắp tay chào vua mà đi … Vua sai Người tìm theo tiễn đưa, nhưng chẳng thấy bóng dáng tăng đâu cả. Tăng đã về đến chùa Thừa Thiên rồi mà các vị tăng khác vẫn  còn đang đi trên đừơng. Sau khi chư  tăng về đến chùa, có một Người biết, nói :

-           Sư  siêu độ cho Thái Hậu ắt là có ban thửơng, sư có thể chia cho đại chúng với ? -  Tăng đáp :

-           Có chứ, nhưng chỉ sợ mọi Người lấy không nổi. – Liền từ  trong tay áo trút ra cái tháp, dựng  nó bên cạnh con đừơng đá. Do đó mà đặt tên là “ Phi lai tháp ”  ( Tháp bay đến ). Người sau thuê thợ xây một cái tháp tương tợ đứng đối diện. Chẳng bao lâu vị tăng lao công ấy bỏ đi mất.

       Lại có truyền thuyết : Chùa Nam Sơn ở  Chương Châu tỉnh Phúc Kiến có vị tổ sư  tên Long Khố , sự tích cũng giống như  câu chuyện trên, chỉ khác là lúc đi với vua, tổ sư  nhìn chăm chú  long bào của vua, vua hỏi : “Sư thích long bào này không ?” Sư  nắm khố cười nói : “khố rách rồi !”  Vua liền cởi long bào, sai thợ sửa lại thành khố rồi đưa tặng sư, sư mặc vào, từ  biệt ra về, do đó Người ta gọi  sư là Long khố tổ sư.  Không biết Long Khố tổ sư  có phải là vị tăng lao công ở chùa Thừa Thiên chăng. Vì chưa tra cứu được nên không dám quyết đoán.

 

LẦN ĐẦU TIÊN CÓ TÚC DUYÊN GẶP HÒA THỰƠNG QUẢNG KHÂM

 

Đại Hùng Bảo Điện chùa Thừa Thiên có ba cửa, phía trên cửa giữa có treo tấm biển chạm rồng hai bên, chính giữa có sáu chữ  vàng : “SẮC TỨ THỪA THIÊN THIỀN TỰ ”. Bên trong cửa chính trái là chỗ ngồi thiền của sư, bên trong cửa chính phải có vị sư già phụ trách về hương đèn. Nhìn thấy Hoà thượng ngồi kiết già mắt nhắm, tôi bỗng nhớ lại trong tiểu thuyết xưa thường có danh từ thiền sư mà mãi đến nay tôi chưa trông thấy một thiền sư  tận mắt. Hôm nay thấy sư  ngồi thiền bỗng nhiên lòng tôi phát sinh niềm vui mừng và sùng kính vô hạn. Cảm xúc còn hơn gặp đựơc bảo vật, tôi không dám gây nhiễu động, chỉ đến một bên im lặng đứng chờ. Lát sau, có một  chú sa-di nhỏ từ  bên trong gọi tên sư, cho biết sư  “thủ quỹ” sai đem tiền chia cho sư, chú sa-di nói vài lời rồi đi.

Nhân cơ hội, tôi nắm hai tay lại vái chào ( lúc ấy tôi chưa biết chắp tay ), bứơc tới xin thỉnh ý.

Sư hỏi : “ Anh  ở đâu ? đến đây làm gì ? ” Tôi nói rõ về quê quán và sự  việc ở  tạm nhà Người bạn chờ thuyền để sang Đài Loan … Sư nghe đến đó hỏi : “ Anh chẳng mấy khi đến đây, chùa rất rộng, có thể đi đến các điện để tham quan ”. Tôi liền đi vào Đại Điện xem sơ qua m?t lần, trở lui… vẫn thấy sư  tĩnh toạ, tự nhiên lòng tôi đối với sư  như  bị một lực hấp dẫn không thể  diễn tả đựơc; tất cả hứng thú du ngoạn đều tập trung nơi sư, như  không muốn  rời nửa bứơc. Bỗng có vị tăng đến nói chuyện với sư, tôi lại được cơ hội đến gần sư  lần nữa.

Khi ấy sư phụ có vẻ hơi phiền, bảo : bảo “Anh  từ  huyện Vĩnh Xuân đến, trong chùa  có một vị tăng già, ông ấy là tú tài ở huyện  gần với anh; anh là trí thức, tôi sẽ  dẫn đến gặp  ông ấy, anh có thể nghe ông nói chuyện Phật pháp để  tăng trưởng trí tuệ”. Dứt lời sư  liền đứng dậy dẫn tôi vào bên trong, đến phòng khách sư giới thiệu tôi với vị tăng tú tài, ( Người họ Lại, gia đình giàu có, con cháu rất đông,  xuất gia đã trên 20 năm, em trai ông là một nhà trí thức uyên bác mà tôi đã có vài lần tiếp xúc). Chuyện trò giây lát sư lại trở về Đại Điện. Lúc bấy giờ vị sư  tú tài già tuổi gần 70, khi nói cười chỉ còn thấy một hai răng cửa, đem tặng tôi mấy cuốn kinh do chùa in ấn : kinh Kim Cang, kinh Di-Đà, kinh Phổ Môn … đồng thời giới thiệu sơ lược. Tôi cảm thấy sốt ruột, vâng dạ qua loa rồi vội cáo từ, cầm theo mấy cuốn kinh ấy trở lui. Ra tới Đại Điện tôi lại đến bên cạnh sư  chờ dịp hầu tiếp chuyện, nhưng sư chỉ miễn cữơng đối đáp, đến trưa tôi mới rời chùa.

 

Chiều hôm đó, tôi đến vãng cảnh chùa Khai Nguyên (chùa lớn nhất thành Tuyềân Châu) xem lại hai cái tháp đông – tây, (chùa Khai Nguyên phân chia tả - hữu hai bên, và đông – tây  đối diện. Theo sách Tuyền Châu Phủ Chí  thì  tháp ấy cao hơn 21 trượng, xây bằng đá xanh, có tám mặt, năm tầng. Mỗi tầng đều có chạm những tượng Phật khác nhau vào chính giữa mỗi mặt tháp. Tương truyền đỉnh tháp làm bằng “đồng thất bảo”, khi ánh nắng chiều chiếu nghiêng, đỉnh tháp tỏa ánh sáng rực rỡ, thật là một công trình kiến trúc kỳ diệu.

Sáng hôm sau tôi lại đến chùa Thừa Thiên, sư  vẫn ngồi chỗ cũ, thấy tôi đến vui vẻ ra tiếp tôi, thái độ khác hẳn hôm trứơc.

Sư cởi mở nói : “ Anh định đi Đài Loan, được đấy. Anh cũng nên đi, sau khi đến nơi anh nhớ viết thư cho tôi. Phật giáo ở Đài Loan chịu ảnh hửơng Thần giáo của Nhật Bản, làm cho tăng tục không còn phân biệt; tôi có duyên với Đài Loan, sẽ đến đó xây dựng đạo tràng hoá độ chúng sinh. Tôi  đem thân này tu hành theo Phật để cứu vãn Phật giáo đang thoái trào trở lại con đường chân chính, đó là tâm nguyện của tôi. Anh nên nhớ rằng sau khi đến Đài Loan anh còn phải trải qua  một giai đoạn gian khổ, e rằng anh không chịu đựng nổi ”.

Tôi thưa : “ Bạch Sư, nếu con đáng nên đi Đài Loan thì dù gặp muôn vàn khó khăn con cũng không từ  bỏ, con sẽ vui lòng chấp nhận ” .

-         Túc nghiệp của anh rất nặng, nếu không trải qua gian khổ để rèn  luyện thì không cách nào tiêu trừ; anh đã nguyện ý chịu khổ thì có thể đi được. Người xưa nói  “ có đắng ắt có ngọt ”. Mong anh dù gặp khổ nạn tột cùng cũng không thối chí .

-           Con kiên quyết chẳng hề hối tiếc.

Liền đó tôi quyết định lạy sư làm thầy, sư cũng vui lòng chấp nhận, quả là có duyên thầy trò. Khi ấy tôi chỉ biết hết lòng cung kính, lấy lễ tạ ơn sư mà thôi, hoàn toàn không biết xin phép quy y.

 

Cùng Sư du ngoạn đến động Bích Tiêu

 

Từ đó, ngoài lúc phải ăn và ở nhà bạn ra, lúc nào tôi cũng ở bên cạnh sư đến  gần 10 giờ đêm mới về. Qua một tuần, ngẫu nhiên sư đề cập đến việc tu khổ hạnh trên núi, tôi bỗng sinh lòng hiếu kỳ, hỏi sư con đừơng đi tới nơi ấy. Sư nói :

-         Con muốn đến đó ? Vậy sáng sớm ngày mai thầy với con cùng đi.

Hôm sau trời vừa sáng tôi liền vội đến chùa. Sư đã rời thiền tọa đợi tôi trước thềm điện  Phật rồi ! đầu đội nón rơm, lưng đeo đãy vải “tứ đại”, tay chống gậy bước ra khỏi chùa. Thầy trò đi ra bằng cửa bắc thành Tuyền Châu, theo một con đừơng nhỏ, già trẻ hai bên đừơng phố kêu lên “ Sư Quảng Khâm ! Sư lại lên núi sao ? ” – Sư đáp :

-         Tôi đưa khách lên chơi, không ở lại núi đâu !

Trên  đường đi nghe  người ta nói với nhau :

“ Hoà thượng phục hổ ấy mà rời khỏi chốn này thì thật đáng tiếc ”.

Đi được vài chục bước, sư bỏ dép đi chân không, tôi cũng bắt chước cởi giày, sư  đem gởi trong tiệm hớt tóc. Sư lại đến một quán nhỏ mua mì và rau cải xanh chuẩn bị cho tôi bữa ăn trưa. Sư bỏ vào đãy đưa cho tôi mang. Thầy trò ra khỏi cửa bắc thành, lần leo bậc cấp lên đến núi Thanh Nguyên.

Trước tiên đến động Di-Đà, rồi chuyển sang động Bích Tiêu nằm ở lưng chừng núi. Bên phải động là vách đá thẳng đứng cao ước một trựơng, ngoài động có một tảng đá lớn chắn, phía trong trống rỗng làm thành cái động nhỏ (rộng khoảng 5 thứơc [TQ], cao 6-7 thước), hai bên như  hai cái cửa thiên nhiên có thể vào ra được. Cửa bên trái khá  rộng, chỗ cao nhất tôi có thể  thẳng người bước vào được. Cửa bên phải rộng khoảng 1 thước, cao gần 4 thước, khi ra vào phải đi cúi đầu. Trong động có một tấm phản vuông cũ kỹ, đủ chỗ đi vòng quanh được. Chính nơi đây sư đã ngồi quay mặt vào vách 12 năm (từ năm 1933 lúc sư 42 tuổi cho đến  năm 1945 sư  54 tuổi). Đất phía ngoài động không rộng. Sư  tự tay trồng một số cây ăn trái

Nghe nói động Bích Tiêu do Người đời trước xây dựng, đã bỏ hoang từ lâu; khi sư đến và nhập định vài tháng trong động thì xa gần đều biết. Sau có một Hoa kiều về nước đến yến kiến sư, phát tâm trùng tu lại. Động chỉ chiếm một mặt bằng nhỏ chưa tới 20 mét vuông; vách đá, mái ngói, hai bên là cửa ra vào, chính giữa có một cửa sổ lớn; trong động, ngoài tấm phản vuông cũ ra , không có vật gì khác. Sư than với tôi: “Khi Thầy sắp xuống núi, có một “trai cô” xin đến ở , nhưng khi thầy xuống núi thì cô ấy lại không chịu đến, nên động mới  hoang phế thế này. Người xuất gia mà không chịu kham khổ, thật đáng tiếc, đáng thương xót !”

Lại men theo bậc đá phía bên phải khoảng 10 bước thì đến động Thụy Tạng. Sư nói : “Động này nguyên là chỗ tu niệm của Thầy tôi là pháp sư Hoằng Nhân, nay Ngài đã viên tịch nên động cũng bỏ không”. Lại leo tiếp đến cái miếu nhỏ (thờ thần), có một ông từ  trông giữ. Sư  lấy mì và rau nhờ ông làm giúp bữa ăn cho tôi ; còn sư  thì đem trái cây trong đãy ra dùng .

Ăn xong nghỉ ngơi một lát, thầy trò theo triền phải núi tìm đường về . Đi qua một động tiên, bên trong thờ một tựơng Tiên, đã lâu không hương khói. Xuống nữa thì đến hai nhà trai đừơng, cách nhau không  xa. Có các trai cô đầu bịt khăn vải đang làm vườn, trong trai đường chỉ còn một hai cô cao tuổi ở lại nấu ăn. Các cô đều do chùa Thừa Thiên phái đến.

Vị trai cô cao tuổi vốn quen biết sư nên mời vô uốâng trà . Lúc ấy trời đã xế chiều, các trai cô ở ngoài vừơn cũng nghỉ việc để chuẩn bị khoá công phu chiều. Sư cũng từ giã xuống núi. Xuống đến đất bằng, thuận đường đến thăm miếu Thành Hoàng Phủ Tuyền Châu, sau miếu có một viện  dữơng lão do vị thân sỹ tên Diệp Thanh Nhãn ở thành Tuyền Châu sáng lập. Trườc kia Đại sư  Hoằng Nhất có đến và ở lại đây (sau khi Ngài viên tịch di cốt đựơc đem thờ ở Công đức đừơng  chùa Thừa Thiên). Đến  lúc này trời sắp tối, thầy trò vội vàng quay về cửa Bắc, đến lấy giày dép đã gởi, rồi trở về chùa Thừa Thiên.

 

Cơn  bão trợ duyên kết nghĩa thầy trò

 

Vì chờ lâu mà thuyền của Người bạn chưa về, lòng tôi nôn nóng đi Đài Loan bèn đến hãng tàu mua vé.

Ngày 17 tháng 06, hãng tàu thông báo 9 giờ  tối khách lên thuyền. Tôi liền đến từ giã sư, lúc chia tay sư nói : “ Nếu như chưa đi có thể trở lại trò chuyện”. Tôi nghe sư  nói vậy biết trong lời nói có ẩn ý, trong bụng  nghĩ lần này chắc khó đi được. Nhưng công ty đã thông báo, tôi chỉ còn cách lên thuyền xem như  thế nào .

11 giờ khuya, thuyền nhổ neo từ cửa nam bến Tân Kiều từ từ  rời vịnh Tuyền Châu ra khỏi cảng. Đêm ấy trăng sáng như gương, trời trong vắt không một bóng mây. Trên thuyền ngoài 7, 8 thuỷ thủ ra, còn lại 36 hành khách đều vào ngủ trong khoang thuyền, chỉ mình tôi ngồi dưới cột buồm trên boong tàu, nhờ ánh sáng trăng mở kinh (thỉnh ở chùa Thừa Thiên) ra đọc.

Mờ sáng hôm sau, thuyền vừa mới ra khỏi hải cảng, phía đầu thuyền hai thủy thủ trẻ rút một cây sào tre bên hông thuyền cắm xuống nước nói với người cầm lái ở phía sau : “ Nứơc sâu 1 trượng 2 ”. Lại cắm một lần nữa, nói : “ 8 thứơc rồi !”. Bỗng dưới đáy thuyền có tiếng động như  chạm vật gì, thuyền nghiêng về bên phải : thủy triều đang rút, nứơc cạn ! Thuỷ thủ vội nhảy xuống cầm gậy chống đỡ thuyền đang nghiêng. Đến khi trời sáng, hành khách ùa nhau nhảy xuống bãi cát, trẻ con  được dịp đào bắt sò ốc trong cát. Khoảng 10 giờ  thuỷ triều lên lại, người lái thuyền bảo làm cơm cho mọi Người ăn no, chuẩn bị 12 giờ  trương buồm ra khơi.

Đến giữa trưa, buồm lớn đã dựng xong, Người lái thuyền ngẩng đầu quan sát khí tượng, bỗng la to : “ Đài Loan có bão, hôm nay không thể ra khơi đựơc !” Ông ta lập tức ra lệnh thu buồm, lái thuyền trở lại cảng, đến một trấn nọ tạm nghĩ. Khoảng 3 giờ chiều, ông lái thuyền lại bảo : “ Sợ gió lớn có thể kéo dài đến vài ngày, để tiện cho hành khách thuyền nên trở về Tuyền Châu ”. Bảy giờ chiều thuyền trở về chỗ cũ.

Rời thuyền, tôi đến ngay chùa Thừa Thiên báo cho sư hay, sư đã ngồi đợi trên sân trước điện. Thấy tôi đến Người cười lớn : “ Thầy biết con sẽ trở lại ! Thầy trò mình nhân duyên chưa kết, con làm sao đi đựơc !”  Sư  chọn ngày hôm sau (19 tháng 6) tại điện Quán Thế  Âm sau  chánh  điện làm lễ quy y cho tôi.

Sáng ngày 19, tôi thành tâm chuẩn bị hương đèn hoa quả, đặt trứơc tượng  đức Bồ Tát Quán Thế Âm. Sư bảo tôi lạy Phật, sư giảng Tam quy y, và hoàn thành lễ quy y cho tôi (tôi là Người đệ tử  thứ ba đựơc quy y). Lễ xong tôi thưa : “ Lòng con rất tha thiết đi Đài Loan, không biết khi nào mới đi đựơc”. Sư nói : “ Cơn bão đã dứt rồi, chiều 20 có thể lên thuyền, 21 ra  khởi, ngày 22 sẽ  đến Đài Loan đựơc ”.

Ngày 20, sau giờ ngọ quả nhiên hãng tàu thông báo tối nay lên thuyền, 7 giờ  tôi đến  từ  giã sư, Người lại dặn kỹ : “ Con nhớ gởi thư liên lạc với thầy ”. Tôi đáp : “ Con xin vâng lệnh sư phụ ”.

Lúc tôi lên đường sư chúc “ Thuận buồm xuôi gió ” mấy lần. Tôi bái tạ ra đi, lòng đầy nỗi vui mừng lần này nhất định sẽ đến Đài Loan !

11 giờ khuya thuyền nhổ neo, ánh trăng sáng ngời, một mình tôi ngồi ở trên boong tàu xem kinh. Sáng ngày 21 thuyền đến cửa khẩu, ông lái cho thuyền ghé bờ , vào nhà ông ta (ở Hải Tân) để chất thêm hàng hoá, đến 12 giờ trưa giương buồm ra khơi. Hôm ấy biển lặng sóng êm, ánh nắng chói chang, thuyền nhấp nhô theo làn sóng biển, xuôi gió hướng về Đài Loan. Tối đến tôi lại ngồi dưới cột buồm đọc kinh, ánh trăng chiếu sáng, trời nứơc một màu. Bỗng nhiên tôi cảm thấy vũ trụ vô cùng bao la chiếc thuyền vô  cùng bé nhỏ mà xót xa cho con đừơng mờ mịt, đời Người huyễn  ảo.

Rạng đông ngày 22, bóng dáng Đài Loan  mờ hiện trước mắt. Đến gần trưa thuyền đến bến trạm thuộc Công ty miền trung; Người lái thuyền la lớn : “ Tôi lái thuyền cho Công ty đã  nhiều năm, tuyến Tuyền Châu – Đài Loan nếu xuôi gió cũng sau 24 giờ mới tới nơi, dù nhanh nhất cũng phải mất 23 giờ; nhưng chỉ đựơc vài lần trong cuộc đời đi biển. Đặc biệt lần này thuyền đi chỉ mất 22 giờ, thật là ngoài sức tưởng tựơng, điều chưa từng nghe nói bao giờ !” Tôi cảm niệm Phật lực vô biên và nhờ ân sư phù hộ. Tôi càng sùng kính sư phụ vô cùng.

Lên bờ, tôi vội đáp xe lửa đi Đài Bắc, đến tạm trú  nhà Người chú,  rồi viết thư  ngay báo cho sư phụ rõ. Mấy ngày sau tôi nhận được thư hồi âm của Người cho biết là vẫn còn ở trong chùa Thừa Thiên.

Ở đây tôi dự thi vào trừơng đào tạo giáo sư  quốc văn cho các trừơng công lập Đài Loan. Sau khi trúng tuyển, tôi dạy thực tập hai tuần, rồi được bổ đi dạy tại Trừơng dân tộc Gia nghĩa . Tôi lại viết thư  kính báo sư phụ rõ, Người phúc đáp rằng sắp đến ở chùa Nam Phổ Đà – HẠ MÔN . Trong mùa đông ấy tôi gởi liên tiếp hai lá thư  nhưng chưa được hồi âm. Mùa xuân năm 1974  tôi  chuyển đến làm việc ở Đảng bộ Cục đường sắt tại Đài Bắc, tôi lại viết thư  nhưng cũng chưa nhận đựơc hồi âm. Mãi đến tháng tư, bỗng nhận đựơc thư sư phụ cho biết người quyết định sang Đài Loan nhưng không có tiền đi đường, tôi lập tức gởi tiền đi thuyền cho người. Chiều ngày rằm tháng 5 sư  phụ đến Cơ Long an toàn. Sau khi đến Đài Loan, sư  phụ độ vô số chúng sanh, (sự việc này tôi xin không trình bày ở đây). Riêng nghĩ đến ơn Thầy chưa báo đáp, lòng tôi sớm tối không  yên, nay chỉ xin được đem một phần nhân duyên dìu dắt hoá độ của Ân Sư, kính cẩn ghi lại  vài dòng kỷ niệm.

 

MỘT ĐOẠN NHÂN DUYÊN GIỮ TÔI VÀ BỒ TÁT QUẢNG KHÂM

                                                                                                            Chu Tuyên Đức

 

Hoà thượng Quảng Khâm suốt cả cuộc đời 95 năm niệm Phật, độ chúng chưa từng gián đoạn, nay xả báo thân vãng sanh Cực Lạc ! Ngưỡng mong Ngài quay Thuyền Từ, trở lại tiếp tục tiền duyên !

Người Người xưng tụng Đại Lão Hoà thượng là bậc  cao tăng, Ngài không ăn thức ăn nấu chín như Người thế gian, đêm không ngã lưng nằm nghỉ, nhất tâm niệm Phật, mấy mươi năm ròng trước sau như một; do vậy mà đắc thần thông diệu dụng, hoá độ vô số chúng sanh. Nhân duyên giữa tôi với Ngài rất sâu thâm. Tôi được biết về cuộc đời của Ngài cũng khá nhiều, nhưng vì thời gian  trình bày có hạn, chỉ xin chọn kể ra đây ba mẫu chuyện thực điển hình, đồng thời hồi tưởng lại “sáu đề cương trong đời tu hành” của Ngài để chứng minh rằng Ngài là vị Bồ  Tát vì hạnh nguyện  mà trở lại độ chúng sanh.

 

1.      Siêu độ vong linh – hộ trì  chùa được bình yên

 

Vào năm 1950 tôi ở ký túc xá Đài Đừơng nằm trên đại lộ Vạn Hoa Côn Minh, ĐÀI BẮC. Tôi thừơng đến chùa Pháp Hoa gần đấy lễ phật nên có quen một vị trai cô ở chùa. Trai cô cho biết cô là đại diện của tín chúng chùa này. Sau khi vị trụ trì Người Nhật về nước, cô được giao cho tiếp quản chùa. Trai cô mời tôi mỗi chủ nhật đến dự pháp hội, giảng kinh cho tín chúng, và dùng cơm trưa với chùa. Cô nói chùa này tối đến không có ai dám ở  lại, vì đêm khuya có ma tự  mở cửa phòng, mở cửa sổ, lại còn bật đèn điện …., làm nhiều động tác khuấy nhiễu khiến ai cũng hoảng sợ, đêm ngủ không yên. Ngày ngày vào khoảng 7 giờ tối sau lúc mặt trời lặn, ai nấy đều phải ra khỏi chùa đến nơi khác ở. Tôi nghe câu chuyện ma quỷ lộng hành gây họa như vậy nghĩ rằng phải có cách  gì trừ, trong lòng cứ lo lắng buồn bực. Một buổi chiều nọ, tình cờ tôi gặp một Hoà thượng già, vóc dáng không cao, đi trên đường Nam Tây Ninh, thong thả hướng về phía nam, cách  chùa Pháp Hoa không xa. Tôi vội bứơc đến trứơc người, chấp tay làm lễ và kính hỏi đạo hiệu. Người đáp : “ Tôi là Quảng Khâm ”. Tôi hỏi Hoà thượng ở đâu, người trả lời : “ Không nhất định là ở đâu ”.

Nhìn dáng đi thanh thoát và đôi mắt rất sáng của người, dừơng như  đây là bậc đạo hạnh, tôi mời Người về chùa Pháp Hoa an nghỉ. Về đến chùa, trứơc tiên Người lạy Phật, kế đó đi đến  chỗ sàn gỗ mé tây, bên  trái bàn thờ Phật, ngồi kiết già. Khi ấy trai cô định dọn cơm chiều cho Người dùng, người bảo : “ Tôi không ăn cơm, chỉ ăn trái cây ”. Nghe thế tôi liền ra ngoài chùa mua một  ít quả chuối vào, đặt lên chiếc bàn nhỏ để người tuy nghi thọ dụng. Đến khi trời sắp hoàng hôn tôi ngầm ra dấu cho các trai cô rời khỏi chùa, chỉ để Người ở lại một mình, xem thử  Người ứng phó ma quái quấy nhiễu như  thế nào.

Sáng sớm hôm sau chúng tôi đến chùa, Hoà thượng  Quảng Khâm lấy tay chỉ phòng khách phía bên phải Đại Điện nói : “ Ở đó có hai hồn ma Nhật Bản, các vị hãy đến giở tấm ta-ta-mi (chiếu Nhật) lên, lấy hài cốt của họ ra để tôi siêu độ cho họ”. Quả nhiên đúng như  lời Người  nói, các trai cô tìm thấy hai bộ xương người. Hoà thượng bảo : “ Các cô đem xương cốt bỏ vào cái  lư  dùng để thiêu giấy tiền vàng mã trước chùa đốt cho tiêu hết đi ”.

Hoà thượng niệm Phật, lại như  vừa niệm chú vãng sanh, sau đó trở vào Đại Điện nói : “ Đã siêu độ cho họ rồi ”. Nhưng chiều hôm đó các trai cô cũng không ai dám ở lại trong chùa. Sáng sớm ngày thứ ba, Hoà thựơng vẫn ngồi nguyên chỗ cũ, người lại nói phòng phía sau, bên  phải Đại Điện cũng có một hồn ma, bảo các trai cô giở tấm ta-ta-mi lên như hôm trứơc, lại phát hiện một bộ hài cốt, và cũng bỏ vào lư  thiêu. Hoà thượng niệm Phật, trì chú  xong  nó: “ Hồn ma này cũng đi rồi ! ”

Sáng ngày thứ tư tôi cũng lại đến chùa Pháp Hoa, trai cô nói với tôi : “ Sư phụ bảo chúng tôi tối nay có thể vào chùa ở lại trong liêu phương trượng”. Từ  đó trai cô yên tâm mời thêm mấy tín đồ dạn dĩ vào chùa ở, quả nhiên bình an vô sự, tất cả thanh tịnh. Do vậy,  tôi nói với các cô : “ Quý cô nên thỉnh Hoà thượng làm trụ trì chùa này, mời Người ở lại thừơng trú, nhất  định sẽ đảm bảo an ninh ”.

   Phần mình, hầu như  mỗi chiều khi xong công việc tôi đều đến chùa Pháp Hoa xin được  Người chỉ dạy về quá trình tu tập. Tôi mới được rõ Người từ  thuở  ban đầu tu nơi sơn  động ở  Tuyền Châu cho đến khi sang Đài Loan đã thực hiện rất nhiều  kỳ tích; chắc hẳn có nhiều  người biết và ghi chép lại, tôi xin khỏi từơng thuật ra đây. Tuy trong kiếp này người chẳng đọc nhiều kinh điển,  chỉ bằng khổ hạnh và niệm Phật mà chứng ngộ, ắt là do người đã trải qua nhiều kiếp tu hành  nên mới có đựơc thần thông như vậy.

 

2.      Ngày đêm niệm Phật nhất tâm bất loạn   

 

Ban đầu được gần gũi bên Hoà thựơng, tôi vẫn có điều thắc mắc : Người không nghiên cứu về Phật điển làm sao lại đựơc thần thông như  vậy ? Nhiều lần tôi xin người dạy cho phương pháp tu hành, người chỉ trả lời : “ Anh chỉ cần tịnh tâm niệm Phật, lâu dài về sau sẽ đạt đến chỗ nhất tâm bất loạn, tự nhiên có cảm ứng ”. Nhưng tôi chưa nghe người “niệm” bao giờ nên không hình dung nổi sự cao sâu của pháp môn này, do đó tôi đặc biệt dành một buổi chiều ngày nghỉ cuối tuần đến chùa bái kiến. Người đang ngồi “xếp bằng” trên một chiếc bàn tròn thấp kiểu Nhật trong chánh điện. Tôi bước đến ngồi lên chiếc ghế đặt gần đấy bên cạnh người. Trời tối, tôi đến bậc  đèn  rồi chú tâm hầu đợi người. Cứ  độ nửa giờ hoặc 40, 50 phút tôi đi nhè nhẹ đến bên cạnh Người hỏi nhỏ : “ Thầy đang làm gì vậy ? ” Người đáp :

-           Niệm Phật

-           Niệm Phật nào ?

-           Phật A-Di-Đà.

                          Tôi hỏi bảy tám lần như thế, Người đều trả lời như  thế .

Suốt đêm ấy tôi không ngủ  được. Đến sáng hôm sau tôi lại hỏi :

-             Thầy nói Thầy đang niệm Phật, nhưng sao con  không nghe tiếng.

       Vậy thì niệm Phật như  thế nào ?

-      Niệm Phật quan trọng là “tâm  niệm”, “chuyên tinh”, ngày đêm không gián đoạn, không tán tâm. Tuy nhiên, nếu các anh biết miệng niệm, tai  nghe, tâm tưởg , vậy  cũng  là “ hạ thủ công phu ”, dần dần tự  nhiên có thể niệm mà không còn phân biệt ngày  hay đêm; niệm Phật nhất tâm bất loạn. Do niệm Phật mà đắc định, đắc tuệ, chắc chắn sẽ thành  tựu .

 

3.        Dự báo sự việc sẽ xảy ra

 

       Vị Thầy mà tôi quy y – Hoà thượng Trí Quang - gặp giáo sư  Lý Hạnh Thôn  thuộc  trừơng Đại học Đông Ngô đến Hoa Nghiêm Liên Xã hỏi Thầy về vấn đề Phật học và tâm lý học. Thầy tôi không nói với ông ta nhiều, chỉ viết trên một danh  thiếp giới thiệu  ông đến  nhà tôi để trao đổi. Sau khi đàm luận, tôi nhận thấy ông cũng có thiện căn, bèn giới thiệu đến thỉnh giáo Hoà thượng Quảng Khâm.

       Mới gặp Hoà thượng lần đầu, giáo sư  Lý Hạnh Thôn liền được cảm hoá bởi đạo hạnh của người, ông tự nguyện xin quy y Tam Bảo. Ông có ký hợp đồng với Đại học Hạ Uy Di bên Mỹ, sẽ được mời sang làm giáo sư ; hơn nữa, vị chủ nhiệm Khoa Người Mỹ sẽ đến Đài Loan gặp ông, trực tiếp trao thư  mời. Do đó, giáo sư  thỉnh  ý Hoà thượng :

-           Việc con sang Mỹ có thành không ? – Hoà thượng nói :

-           Lúc này thì  không được

       Vài ngày sau lại có một giáo sư tên Thang Chi Bình thuộc Viện Đại học Nông nghiệp Trung Hưng cũng được Hoà thượng Trí Quang giới thiệu đến tôi để nói chuyện Phật pháp. Theo lời anh ta kể thì gia đình đang gặp nhiều khó khăn và phiền muộn , rất mong sớm giải quyết được vấn  đề kinh tế. Anh hỏi đạo Phật có giúp được gì chăng ? Tôi cũng giới thiệu anh đến Hoà thựơng Quảng Khâm.  Thang tới xin gặp Hoà thượng và thỉnh ý : “ Con có quá nhiều khó  khăn và lo lắng, làm sao giải quyết nổi ?” – Hoà thượng nói : “ Anh có thể ra nước ngoài làm việc kiếm tiền, cuộc sống sẽ được ổn định ”.

       Sau đó hai Người hẹn nhau cùng đến nhà tôi. Lý phát biểu trứơc rằng ông ta quyết định  đi ra nước ngoài nhưng Hoà thượng bảo : “ đi không được ” . Thang thì nói : “  Tôi chẳng có ý định đi ra nứơc ngoài mà Hoà thượng  lại bảo “ có thể đi được ”. Cả hai Người đều cho rằng lời Hoà thượng rất khó làm cho Người ta tin. Tôi nói : “ Hoà thượng có thần thông, biết trước việc tương lai của Người khác”. Rồi tôi đề nghị Thang thử tìm cơ hội ra nước ngoài xem sao; còn  Lý thì hãy đợi xem kết quả ông chủ nhiệm Khoa đến  Đài Loan như  thế nào.

       Chưa đầy một tháng, khi ông Lý gặp chủ nhiệm Khoa Người Mỹ, ông này cho biết là phải trở về Hạ-Uy-Di bàn với Hiệu trưởng xong mới gởi thư  mời; từ  đó Lý không được tin  tức gì nữõa. Còn  anh Thang thì trở về trường, đọc trong báo Nông nghiệp CANADA bỗng gặp mục quảng cáo tuyển Người có kỹ năng nông nghiệp, Thang liền gởi đơn xin ứng tuyển. Quả nhiên được Nông trừơng Vancouver gởi thư mời và vé máy bay đến  Đài Loan cho anh ta và cả gia đình  cùng sang CANADA nhận việc. Từ  ấy cuộc sống của gia đình Thang hoàn toàn thay đổi, khá hẳn lên .

 

4.        Sáu đề cương lớn cho Người tu hành

 

       Trên đây chỉ là thông linh biết trước tương lai Người khác của Hoà thượng, còn nhiều kỳ tích nữa, tôi không thể  kể hết .

       Về sự  tu hành của Hoà thượng, tôi dựa vào phương pháp quan sát và quy nạp có thể nêu giản lược 6 đề cương như sau :

1.          Tâm tưởng niệm đức Phật A-Di-Đà

2.          Nói ra lời gì đều phải có  ích cho Người.

3.          Cử chỉ và hành động luôn ở trong định và tuệ.

4.          Trì giới nghiêm cẩn vượt xa người thường.

5.          Xem danh lợi là rỗng không.

6.          Độ hết thảy sinh linh giải thoát.

Từ  các sự  thật nói trên, có thể chứng minh :

Hoà thượng Quảng Khâm là vị bồ-Tát tái sinh theo thệ nguyện !

Tôi nhận được điện thoại của bạn Huệ Cự  từ  Đài Loan gọi đến nói :

“ Bồ–Tát Quảng Khâm báo cho biết, vào ngày mồng 8 tháng 2 năm nay Ngài sẽ đoạn tận nhân duyên, thoát ly thế gian này. Nhân vì đại chúng tha thiết thỉnh cầu Ngài lưu lại, Ngài từ  bi hứa sẽ chậm lại 5 ngày. Chiều ngày 13 tháng 2, quả nhiên trong Đại Hùng Bảo Điện chùa Diệu Thông, giữa âm thanh tiếng niệm Phật của đại chúng bao  quanh, Ngài an toạ siêu hoá – Vào năm Ngài thọ 95 tuổi .

Đại chúng nghị bàn dự  định đến ngày mồng 6 tháng 3 làm “  lễ Trà–tỳ  ”.

Nghe tin ấy, tôi không cầm được nước mắt thương tiếc, và đau xót cho bao chúng sinh phứơc bạc đã mất đi một  đấng Tôn Sư !

Đúng vào dịp này, ngày 23 tháng 2 chùa Pháp Ấn bên Mỹ khánh thành, đồng thời có tổ chức ngày niệm Phật. Ngài trụ trì – Pháp sư Ấn Hải – chỉ định tôi làm chủ  xướng. Nhân dịp này, tôi báo cáo sơ lược với mọi người về tin buồn, và nguyện cầu Bồ-Tát Quảng Khâm tạm về  cõi Tịnh Độ bên cạnh đức Phật A-Di-Đà, sau đó trở lại thế gian ô trược để hoá độ chúng sanh cùng về Lạc Quốc, đồng thành  Phật đạo .

 

 

ĐỐI THOẠI GIỮA NGÀY QUẢNG KHÂM VÀ PHÁP SƯ TUYÊN HÓA

Giang Khải Siêu

 

       Người viết dựa theo bản ghi chép cuộc đối thoại giữa Hoà thượng Quảng Khâm và Đại pháp sư Tuyên Hoá ngày 14 tháng Giêng năm Giáp Dần –1974

             ( Lão Hoà thượng là Ngài Quảng Khâm,

             Đại Pháp sư là Ngài Tuyên Hoá )

                    Lão Hoà thượng hỏi :

-       Ngồi thiền có ý vị gì ?

                        Đại pháp sư đáp :

-         Vô ý vị.

-         Vô ý vị, có phải như một khối đá không ?

-         Vô ý vị cũng là khối đá, “ ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”,

vì vậy mà vô ý vị, không có trí cũng không có đắc

-         Chẳng tiếc gì thân thể .

-               Vì không có nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả, phàm cái gì có tướng đều là hư vọng, nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng tức thấy Như  Lai; cho nên [nói] ta thấy Như  Lai, [mà]ø Như  Lai không có nơi đến, cũng không có nơi đi, vì vậy ta chẳng đi đâu cả.

-         Ấy  là lời Bồ-Tát nói, nhưng chúng ta còn có nhục thể .

-         Không chấp trước tức là Bồ-Tát.

-         Chấp trước mới là Bồ-Tát.

-         Tất cả đều là huyễn hoá, làm mà không làm .

-         Nhưng người nói là ai ?

-         Người nói là người nói, người ăn là người ăn.

-         Ăn chẳng no,  lòng chẳng chịu .

-         Ăn chẳng no, vì không ăn; đã ăn nhất định phải ăn no !

-         Người tham là người nào ?

-         Người tham là người tham, người tham cũng là Phật .

-         Người nói có lý !

-         Nếu nói vô lý, tôi ở Mỹ người Mỹ hẳn không phục và theo tôi .

( Đối thoại đến đây, Pháp sư  Độ Luân nói với các đệ tử quốc tịch Mỹ của Ngài )

Đại Pháp sư bảo các đệ tử  : “ Các Thầy có vấn đề gì, có thể thỉnh giáo Lão Hoà thượng “.- Các vị đệ tử cúi đầu đáp :

-         Chúng con chưa nghĩ ra vấn đề gì để thỉnh giáo Hoà thượng .

Lão Hoà thượng nói với họ :

-         Các vị khỏi cần hỏi, chỉ nhìn bằng mắt cũng biết.

Đại pháp sư nói : “ Không nhìn cũng có thể biết. Tôi khi còn ở Mỹ chưa đến đây cũng đã biết Hoà thượng là bậc tu hành ”.

-         Đâu phải ! Đâu phải ! Tôi vẫn thường cảm thấy cái thân giả tạm này không được tự tại

-         Tự tại hay không tự tại, chẳng quan tâm đến nó làm gì.

-         Không quan tâm đến nó cũng thấy khổ sở.

-         “ Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” ! Ngài nên chiếu cố thân thể.

-         Muốn chiếu cố cũng không chiếu cố được.

-         Không chiếu cố cũng được chiếu cố .

-         Không có chỗ trụ !

-         Chiếu cố cũng là “ không có chỗ trụ ”.

 

Nam Mô A-Di-Đà  Phật

  
 

Bái kiến và Phỏng vấn

HOÀ THƯỢNG QUẢNG KHÂM 

Chương Khắc Phạm

 

“ Hải Triều Âm”, số ra ngày 01-07-1975 

          Lên núi bái kiến Cao Tăng nơi động thiền

 

Có một lần tôi được yết kiến vị Cao Tăng vốn được mọi người sùng bái, vị ấy là Hoà thượng Quảng Khâm ở chùa Thừa Thiên, trên núi Thanh Nguyên thuộc làng Thổ  Thành, ĐÀI BẮC

 

Vị tăng cao niên ấy nay đã 84 tuổi, chuyên tu thiền định, không ăn thức ăn nấu chín, chỉ ăn trái cây nên có mỹ hiệu là “ Quả Tử Hoà Thượng ”. Hiện nay thỉnh thoảng người cũng  dùng vài hớp cháo loãng, là vì cần tiếp đẫn nhiều khách hành hương, khách du  lịch, khách  phương tây, và cả những vị khách lòng đầy hoài nghi rắp tâm vấn  nạn, người đềàu  tùy duyên  khai thị cho họ .

Tinh thần của người rất vữõng vàng, hai mắt trong sáng, thính giác tinh tế, bước đi an toàn, phong thái sinh động, so với những lần tôi gặp người trước đây vẫn tốt, không gì thay đổi. Người nói đã ba năm không xuống núi, và cũng không định thuyết pháp .

Người tĩnh tọa trong động Địa Tạng không cần ai biết đến, vậy mà danh  tiếng của người lan truyền đến Hàn Quốc, Hoa Kỳ và Châu Âu. Đồng thời cũng lan truyền trong  trí thức trẻ Trung Hoa . Người từng nói với mọi người rằng “Phật pháp chẳng hề suy vi, chỉ có tâm con người đang suy vi ”.

Một vị cao tăng xưa nay không bàn chuyện thế tục, chỉ nói việc tu hành, mà lần  này - thật là ngoài sức tưởng tượng  - tiếp chúng tôi với vẻ mặt vui tươi,  thân mật, và còn phá lệ nói về  việc tu hành của mình, làm cho chúng tôi rất xúc động vì được ưu ái, rồi bỗng nhiên tự hỏi:

Đây chẳng là hình ảnh của cả một đời tu hành của người ? Quả vậy, đúng với châm ngôn người thường tự  cho mình là kẻ bình phàm .

 

Hoa rừng hàm tiếu , chim hót chào mừng

  

Sáng ngày mồng chín tháng 3, bầu trời xám nhạt, tuy chẳng chuyển mưa mà không quang đãng. Một ngày chủ nhật đang ấm áp bỗng nhiên trở lạnh. Định bụng ở  nhà pha trà uống, xem kinh; vụt nhớ ra chiều hôm qua có hẹn với cư sĩ Đinh Triệu Cường dạy ở trường Đại Học Quân   Sự, cùng đến chùa Thừa Thiên đảnh lễ Hoà thượng Quảng Khâm. Tôi vội dùng điểm tâm rồi đi ra bến xe, đến trạm tây đại lộ thấy một làn sóng người chen chúc. Tư thế chuẩn bị khác nhau : leo núi, ra ngoại ô, đến  vười hoa, đi câu cá  . . . , người đông đến nỗi chen chân không lọt. Nhưng rất  dễ nhận ra Triệu Cường giữa biển người, anh mặc com-lê  nghiêm chỉnh như  sắp đi dự  tiệc. Lý do đây là lần đầu tiên anh lên bái kiến Hoà thượng, anh rất mực tỏ lòng thành kính, chẳng những tắm rửa sạch sẽ, mặt y phục mới mà còn khước từ ăn điểm tâm hay ăn vặt, khiến tôi cảm thấy hổ thẹn không được như anh. Lên xe buýt yên chỗ rồi, thật duyên may, thời tiết trở lại ấm áp, mặt trời tươi cười xuất hiện khỏi những tầng mây u ám.

Xe đến Thổ Thành chúng tôi đi bộ lên núi, đường lên núi rất  u  tịch, chim hót chào người, hoa tỏa hương thơm, cây lá xanh tươi … làm cho tan  biến bao tư  duy trần tục. Đến một nhà nghỉ mát lưng chừng núi, rồi cứ cách vài chục mét bên đường lại có một bia đá do tín chúng đóng góp xây dựng, trên bia khắc danh hiệu chư  Phật và Bồ-Tát. Thiện nam tín nữ  mặt hướng lên núi, nối tiếp nhau tạo thành dòng người, ai nấy lặng thinh một lòng thành kính, từ  từ  tiến lên phía trước, làm tôi nhớ lại cảnh ba mươi năm về trước đi chiêm bái cổ sát, cũng hao hao giống như  hôm nay. Chỉ khác là núi này khai phá chưa lâu nên thiếu những cổ tùng đại thọ, thiếu tiếng thông vi vu trong gió để cho kẻ hành hương thưởng thức !

     Bước vào chùa, nhìn thấy trăm hoa tươi thắm, cây cỏ xanh biếc; quả là nơi an trụ  của một bậc cao tăng cảnh quang có khác ! Trước tiên chúng tôi vào lễ Phật trong Đại Hùng Bảo Điện, rồi sang điện Địa Tạng. Hoà thượng đang ngồi trứơc cửa, từ xa đã vẫy gọi chúng tôi, hiền từ  thân thiết như tiếp đón những đứa con viễn du nay đã trở về, niềm vui bột phát tự  nhiên từ  đáy lòng của người cha; thật là điều mà từ trước tới giờ tôi chưa từng chứng kiến.

 

Noi gương Cổ phật, khắc dạ ghi tâm

 

Người dẫn chúng tôi đến bộ trường kỷ sofa bên trái chánh điện mời ngồi, vui vẻ giảng giải cho chúng tôi nghe trong suốt một giờ; kể đầy đủ  từ  việc gần đây ở trên núi cho đến cách hoằng hoá lợi sanh.

Người nói : “ Mấy  năm gần đây có nhiều học giả hoặc tu sĩ Hàn Quốc, Mỹ  Quốc, Âu Châu lên núi tham vấn Phật pháp. Họ vừa có lòng thành lại vừa  mang bụng nghi hoặc, sau khi nghe qua những lời giải thích giản dị ai cũng hoan hỷ, vui vẻ thanh thản ra về. Cũng có lớp người  trẻ trong nước như sinh viên học sinh, hay thầy giáo … rất ngưỡng mộ Phật pháp và có những hiểu  biết sâu sắc, họ cũng đều hoan hỷ; đó là điều đáng an ủi và phấn khởi. Bất luận bằng lời  nói hay  bằng trước tác, trực tiếp hay gián tiếp tuyên dương Phật pháp , những con Người ấy đều tạo được ảnh hưởng tốt đối với xã hội ”.

Nói về đời sống trong các chùa, Người xúc động đổi giọng khi đề cập đến tăng đoàn hiện nay:

“ Hoàn cảnh xã hội hiện nay thay đổi, hoàn cảnh tăng đoàn cũng thay đổi theo. Nếp sinh hoạt của chúng tôi trong chốn tòng lâm trước kia và cách sinh hoạt của người xuất gia hiện nay  khác nhau. Người xuất gia trước kia phần nhiều rất coi trọng Phật pháp, ngày ngày  tu tập giữ  bốn oai nghi  đi, đứng, nằm , ngồi. Còn ngày nay nhiều Người do hoàn cảnh bắt buộc nên mới xuất gia, cho  nên  cũng không ít người vì lợi ích cá nhân mà bon chen chạy vạy. Số người chân chính, tận  tâm  hoằng  dương Phật pháp ít đi ”. – Tiếp đó Người cho biết lý do :

“ Phập pháp là pháp xuất thế gian, khác hẳn với pháp thế gian. Gương sáng  trang nghiêm  của chư Phật ngày xưa vẫn còn ghi trong sử sách, chúng ta không được quên đi. Điều  rất đáng tiếc là Người xuất gia hiện nay vô tình đem chính trị vào trong cửa Phật;  lấy  việc tham quan  du lịch, buôn bán ảnh hưởng mà cho là hoằøng dương Chánh Pháp. Những việc làm như vậy có khác gì hoạt động của xã hội công thương nghiệp ?  Xét theo giới luật mà nói, đó là  điều  phạm giới,  là hành vi ‘ không đúng theo Pháp’ ”.

 

Giới  luật chủ yếu là tự mình giữ giới

 

Rồi Hoà thượng đem thanh quy trong nhà Phật ra để minh chứng, làm rõ  thêm luận  điểm của mình. Người nói : “ Theo quy luật tòng lâm, không luận người tu Thiền, tu Tịnh hay tu Thiên thai, Duy thức đều phải chân chính tu hành. Hiện nay, người ta phần nhiều do vì cuộc sống  xô bồ nên việc tu hành chỉ  là chạy theo hoàn cảnh. Chả lẽ biết tụng kinh, khoác được áo cà-sa  là trở thành  tăng bảo hay sao ? Cũng có người viết được sách báo đấy, nhưng chưa thể gọi là Phật  pháp được. Nói  ra thật buồn lòng ! ”

Người ngậm ngùi :  “ Nhà chùa trước kia lấy việc cứu tế tai ương, đói  kém, bố thí  cho kẻ bần cùng để kết duyên với xã hội, ngõ hầu tiêu trừ khổ nạn. Còn ngày nay, việc làm của các đạo tràng Đài Loan thật tương phản; ai nấy thi đua làm cơm chay sao cho thật ngon  nhằm  thu  hút người  giàu tiền của và có địa vị trong xã hội. Ngày ngày quanh quẩn trong chốn  tiền tài, danh  lợi  thì  càng xa rời Phật pháp ! ”

Nói về mối quan hệ giữa tăng đoàn và cư  sỹ, Hoà thượng khiêm tốn  cho rằng tăng đoàn  cống hiến quá ít, không tạo được tác dụng lãnh đạo. Người nêu ra hai trường hợp làm thí dụ :

Thứ  nhất, các giảng sư không nói rõ một cách thiết thực cho cư sỹ biết sự  khác nhau giữa Phật, Bồ-Tát của Phật giáo và Thần linh của Đạo giáo. Cho đến nay bất kể  thành  thị hay thôn  quê, còn nhiều nơi người ta thờ Thổ địa, Thành Hoàng, Văn Xương đế quân, Quan Công, Mã Tổ, Triệu Công Minh, Lữ  Thuần Dương … chung với Phật và Bồ-Tát trong cùng đền  miếu ! Lẽ ra không nên như  vậy .

Kế  đến, nói về giới luật thì người xuất gia phần nhiều chưa nghiên cứu sâu. Người bảo: “ Giới luật chủ yếu là tự mình giữ giới, không thể đem ra dạy bảo người  khác phải làm theo, còn chính bản thân mình lại chẳng thực hành ”.

  

Phật pháp không suy vi, hưng suy là do lòng người

  

          Nói đến đây, Hoà thượng trịnh trọng trả lời vấn  đề mà nhiều người trong cũng như ngoài nước đang quan tâm, Người nói :

“ Phật pháp không bao giờ suy vi; lòng người mới thật đang suy vi ! ”

Rồi Người giảng rõ :

“ Vì lòng Người suy đồi nên nếp sống xã hội hỗn loạn, chuẩn mực đạo đức xuống cấp, do đó Phật pháp không hưng thịnh. Không có pháp thế gian thì không có Phập pháp, muốn Phật pháp được hưng thịnh thì con người phải  biết tu tâm ”.

Và Người trang trọng nhắc lại ba câu quen thuộc mà ai cũng đều biết : ” Nhân thân  nan đắc ! Phật pháp nan văn ! Trung Quốc nan sinh !”

[ Thân  người khó được có ! Phật pháp khó được nghe ! Khó sinh vào Trung Quốc !] Nhưng ba câu ấy từ miệng Người nói ra như có sức mạnh ngàn cân, làm cho tai chúng tôi bị chấn động. Kế đó Người dùng những thí dụ đơn giản để minh họa cho ba câu nói trên :

“ Những người đi học hiện nay rất thích đi du học nước ngoài, đặc biệt là muốn đến nước Mỹ và Châu Âu . Các nước phương tây không coi trọng luân lý đạo đức, chỉ  quan tâm đến khoa học kỹ thuật. Dù cho họ có học giỏi khoa học kỹ thuật rồi, cũng chỉ  là cái  vỏ bề ngoài;  không  học đạo  lý  làm người thì giả sử  ai ai cũng đem bằng cấp  tiến sỹ trở về nước thì – nghiêm túc mà nói – đối  với quốc gia, xã hội cũng chẳng lợi ích gì đáng kể  ”.

 

Sống trong mộng huyễn Lục đạo, không thoát khỏi cõi Ta – bà

 

Hoà thượng còn nêu ra những tai họa, hỗn loạn trên thế giới và quy trách nhiệm cho sự  vô tri của người phương tây :

“ Họ dùng văn  minh  vật chất tô điểm cho thế giới vật chất hào nhoáng . Chỉ  vì không hiểu  lễ trọng nghĩa nên làm cho thế giới phát sinh động loạn. Dẫn đến tai ương. Người phương tây  không dễ gì hiểu được nghĩa lý của câu “ Thân người khó được có ”, lại càng không hiểu  nổi câu “ Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh ”. Thân thể chúng ta bị huỷ hoại nhưng Phật tánh  thì  không bao giờ  bị hoại. Chúng sanh tuy có Phật tánh, nhưng ngày ngày sống trong mộng, ngay cả ba bữa ăn cũng ở trong mộng. Sống trong mộng huyễn sáu nẻo luân hồi, không thoát khỏi  cảnh Ta-bà; muốn thoát khỏi cảnh giới Ta-bà phải có duyên được nghe Phật pháp, và y  theo Phật pháp  mà thực hành  “.

“ Xã hội  chẳng hề tổ chức dựa theo Phật pháp, nhưng thế giới Ta-bà hướng về Phật  pháp. Do vậy, người xuất gia hiến thân cho Phật pháp không thể để bị xã hội làm ô nhiễm  mà phải  lấy hạnh nguyện của mình làm cho xã hội được trong sạch. Người xuất gia vì từ bỏ danh lợi mới xuất gia, hiện nay trong họ lại có kẻ vì danh lợi mà đấu tranh nhau ngấm ngầm hay công khai. Quả là làm mất đi bổn phận của người  xuất gia ! Không từ cái khổ mà nhập đạo, không nhẫn  nhục tinh tấn, lại cùng với người thế tục “đồng hội đồng thuyền ”, thử hỏi như vậy làm sao mà thành được bậc thầy của người và trời ?! ”.

 

Do khổ mà nhập đạo và gắn liền với hạnh nguyện

 

Nói xong những lời tâm sự  đầy cảm thán, Người chuyển sang nói về đức hạnh tu trì của chư Phật và Bồ-tát trong quá khứ :

“ Chư Phật và Bồ-Tát thời quá khứ đều tu khổ hạnh, có vị tu trong vài đời, có vị  tu trong nhiều kiếp; sống đạm bạc, không vọng động tác vi cho nên  mới  giác ngộ, dứt sanh tử. Người đời nay phần nhiều không muốn cực khổ, không tin rằng Phật, Bồ-Tát vì Chánh pháp mà xả bỏ thân mạng, do đó rất khó đi vào con đường Đạo. Chư Phật và Bồ-Tát thời quá khứ mỗi vị đều có nguyện lực riêng, như đức Phật A-Di-Đà có 48 lời nguyện, đức Phật Dược Sư có 12 lời nguyện. Người tu hành phải noi gương chư Phật  và Bồ-Tát, mỗi người ít nhất phải phát một lời nguyện, mãi mãi hành trì cho đến khi thành Phật mới thôi. Ấy  là lời nguyện hoằng pháp độ sanh, hoàn thành Phật đạo, chứ  không phải nguyện làm chùa lớn ở cho thoải mái, - nếu mà phát nguyện kiểu như  vậy thì  thật đáng thương xót ! ”

“ Hiện nay, quả thực có hạng người xuất gia kiểu đó, họ chỉ  toan tính xây chùa cho thật lớn, có tín đồ thật đông, và thích chứng tỏ khả năng trước mọi người; họ không cho tín  chúng của  mình đến lễ Phật chùa khác mà chỉ tin Phật ” bổn chùa ” , chỉ muốn tín đồ tin theo mình, không cho tin vào tu sỹ ở chùa khác. Hạng người tự cao ngã mạn như thế chỉ còn biết quay cuồng trong vòng danh lợi, chẳng khác gì người tại gia, ngày ngày sống trong khổ não ”.

Tín chúng và du khách lên núi càng lúc càng đông. Có người vào nghỉ trong điện, có người đứng ở bên ngoài. Hoà thượng nhìn ánh mắt thiết tha của họ, biết rằng họ còn có nhiều vấn đề mong được thỉnh ý, Người bèn kết luận một cách quyết định : “ Phật  pháp không  suy  vi mà  lòng người suy vi ”. Rồi với tinh thần khích lệ và hứa hẹn, Hoà thượng nói với mọi người : “ Mấy  năm gần đây, cư sĩ tại gia  về phương diện hộ pháp đã có nhiều cố gắng tích cực, nhưng  cần phải  tinh tấn, không nên tự mãn, phải  luôn thành tâm học Phật; bất luận  Người tại gia hay xuất gia đều có thể thành Phật ”.

 

                   Thiền môn tu hành không ở lời nói

 

Ngôn từ  của Hoà thượng Quảng Khâm như  dòng sông cuộn chảy, khi Người đang nói không ai có thể xen lời, chỉ có sư  phiên dịch là không ngừng chuyển dịch lời Người. Thật là điều gây sự ngạc nhiên .

Trước kia tôi vẫn thường nghe Người thuyết giảng, hơn phân nữa nội dung phải nhờ người dịch mới hiểu, nhưng lần này bỗng nhiên tai tôi như  linh thính, gần như  hiểu được đến bảy phần mười.

Mỗi lời Người nói ra như phát xuất từ  tâm can, nêu đúng tệ đoan xã hội hiện nay, khiến  cho người nghe cảm kích vô cùng. Nhưng khi Người đề cập đến phương pháp tu trì của tông phái thì đây chính là điều mà giới học Phật trẻ tuổi rất muốn biết. Cho nên tôi cung kính thành khẩn hỏi Người về pháp tu thiền hiện nay và “ thiền tịnh song tu ” có phải là phương pháp tốt nhất ?

Người đáp : “ Thiền không liên quan với hình tướng, không liên quan với “ thoại đầu”; không bằng lời nói, không dùng thần thông, chỉ cầu nhập định, định được là thiền. Gần  trăm năm nay, người học thiền đa số lấy niệm Phật làm căn bản, đó cũng là một đường hướng, nhưng  đâu phải chỉ có con đường ấy mà thôi; do vậy tôi không khuyên ai ai cũng phải theo con đường ấy ”.

Người nói xong, chúng tôi lễ tạ lui ra, đến trai đường dùng cơm trưa.

Tôi cùng anh Đinh rẽ sang động Nhật Nguyệt ở núi sau, đây là nơi ở của Hoà thượng năm xưa. Hiện giờ sư  Truyền Lương ở đó, sư  là người tu hành bình dị và thiết thực, khiêm cung hoà ái tiếp dẫn tín chúng, thật là một long thượng hiếm có. --- Trên đường về, hồi tưởng lại bữa cơm chay thanh đạm trong chùa, phong cách hiền hoà của đại chúng, dung mạo từ  bi của vị cao tăng, phong cảnh yên bình u tịch của núi rừng . . . Ai bảo trên đất nước chúng tôi không có “ thiền ” ? !


 

“ PHÁP SƯ TRÁI CÂY”

 KHÔNG NƠI NÀO KHÔNG TỰ TẠI

Vân Lâm

 

Một giờ chiều, ngày mồng 9 tháng 4, một đoàn người khởi hành từ  Đài Bắc, đi khoảng một tiếng đồng hồ xe đến làng Thổ Thành. Đến đoạn đường dốc núi quanh co, xe lên muốn không nổi, hành khách định xuống đi bộ. Qua một eo dốc, bổng xa xa thấy thấp thoáng bóng chùa Thừa Thiên, mọi người chỉ chỉ trỏ trỏ cho nhau, bàn tán về chuyến đi lịch sử  của mình. Đến trước chùa chỉ thấy một vùng đất màu vàng mới khai phá. Số là chùa Thừa Thiên đang trùng tu, bên cạnh tạm thời dựng một cái nhà tôn  để thờ Phật, có bố trí hai ghế dài, vài chiếc ghế dựa bằng mây, đơn  giản mà trang nhã.

Bên trong, một vị Hoà thượng già, thần thái điềm đạm đang ngồi trên chiếc ghế mây, hai bàn tay nắm vào nhau; thấy chúng tôi đến Hoà thượng mỉm cười gật đầu. Làm cho chúng tôi cảm thấy thân mật. Đây chính là Hoà thượng Quảng Khâm, - người mà thường được gọi là “ Sư  trái cây ”

Chúng tôi lễ Phật xong, Ngài mời tất cả ngồi xuống, giáo sư  Lam mở lời trước : “ Chúng  con  là sinh viên trong Ban nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu Phật giáo Trung Quốc PHẬT QUANG SƠN,  hôm nay xin đến thăm Hoà thượng đồng thời kính xin Hoà thượng chỉ dạy cho” .

Người nói : “ Theo tôi, người mới xuất gia cần phải trải qua một giai đọan  khổ hạnh, tức là phải kham khổ trong cái ăn cái mặc; cần cù làm việc, dù bất cứ công việc gì : kiếm củi, gánh nước, trồng rau, nấu cơm … đều không nề hà, càng lao động cực khổ trí tuệ càng mau phát. Người  mới vào chùa phải làm sao cho tâm an trụ. Biện  pháp tốt nhất là chí tâm niệm Phật A-Di-Đà ”.

Hoà thượng chỉ các đệ tử của Người, nói : “ Hàng ngày tôi cũng chỉ dạy họ niệm Nam-mô A-di-đà Phật ”.

Pháp sư  Y Nghiêm hỏi : “ Thưa Ngài, làm việc gì thì mới gọi là tu khổ  hạnh ? ” – Hoà thượng đáp : “ Không so đo tính toán bất cứ việc gì; trong sinh  hoạt hàng ngày không khởi tâm  phân biệt, như  vậy là tu khổ hạnh ”.

Mọi người cảm thấy câu trả lời của Hoà thượng rất đặc biệt .

Tiếp đến, Sư  Huệ  Căn hỏi : “ Xin được hỏi Pháp sư, Ngài có ý kiến gì đối với vấn  đề nghiên cứu giáo lý ? ”

-     Không có ý kiến gì cả, đó là điều rất tự nhiên; các vị lấy nghiên cứu giáo lý để  hoằng pháp, còn tôi thì lấy việc tu trì để hoằng pháp, - như  nhau ”. – Sư  Tùng Trí hỏi :

-     Thưa Ngài, khi xưa Ngài tu hành đóng cửa “nhập thất”, gặp lúc trắc trở Ngài đối phó như  thế nào ?

-     Phải vững tin, phải có chỗ tựa trong bản tâm sâu kín của  mình .

-          Khi “nhập thất” có cần phải ngày càng ăn ít đi hay không ?

-         Không phải  vậy, phải  thuận theo tự nhiên, phải sống bình  thường, không có gì  ngăn  ngại, phải vô ngã mới là “nhập thất”; nếu như có  “ ta ”, “ ăn nhiều ít ”, ấy không phải tu mà là chấp trước.

-         Khi con “nhập thất” có lúc không muốn ăn, cho nên không ăn .

-         Cố ý không ăn thì hoả khí bốc lên, không thể tu hành được; ý nghĩ  “không muốn ăn” khởi  lên ấy là chấp trước, “không muốn ăn” là có cái “ ta  không muốn ăn ”.

-         Có lúc không ăn  cảm thấy dễ chịu  thì sao ?

-         Chỉ dễ chịu vài ngày thôi, hiện tượng đó tạm thời, bởi vì chúng ta  chưa  đạt đến chỗ nhất tâm bất loạn, một niệm không khởi; cho nên có ý chấp không ăn thì thân thể sẽ suy yếu dần .

Hỏi đáp một hồi, mọi người nhớ lại những lời thuyết giảng vừa rồi.

Bỗng Sư  Huệ Trí hỏi tiếp : “ Nghe nói Hoà thượng chỉ ăn trái cây sống qua ngày . . . ” – câu hỏi chưa dứt Hoà thượng đã trả lời :

-         Bây giờ tôi không ăn trái cây như  vậy nữa . Năm 1947  ( lúc đó Người 57 tuổi )  tôi  từ  Đại Lục đến Đài Loan, tu hành ở trong núi, suốt thời gian từ  55 đến 84 tuổi  ăn toàn  trái cây, còn bây giờ tùy duyên, tôi ăn chay bình thường .

-         Thưa Ngài, vì sao Ngài lại có ý nghĩ  ăn trái cây ?

-         Vì trên núi không có gì để ăn, dĩ nhiên là phải ăn  trái cây thôi.

Nghe nói thế ai nấy đều cười. Câu trả lời hoàn toàn ngoài sự  ức đoán của mọi người. Hoà thượng nói tiếp :

“ Tôi đâu phải cố ý chỉ ăn trái cây, có lúc không có trái cây  thì  uống nước cũng qua  được  một ngày .”

Sư  Tùng Trí hỏi “ Nghe nói Hoà thượng lúc đầu lên núi bị lạc đường, tìm không có gì để ăn nên mới ăn trái cây ?”

-         Đúng vậy, trên núi  không có gì để ăn, không có “thiên - nhân” cúng dường, chỉ còn  cách tìm trái rừng ăn đỡ đói .

Sư  Huệ Tịnh hỏi : “ Ăn trái cây như  vậy cơ  thể  chịu nổi không ? ”

-         Chịu không nổi cũng phải chịu, có trái cây  ăn  là tốt lắm rồi, sao lại còn  nghĩ đến “chịu nổi hay không nổi ?”

Câu trả lời làm cho mọi người cười vang lần nữa .

Giáo sư Lam hỏi : “ Hàng ngày  Hoà thượng vẫn ngồi thiền ? ”

-         Tôi tùy phương tiện, hiện nay việc gì cũng có : ăn,  ngủ, - ngủ rồi đến ghế mây  ngồi. Muốn ngủ thì ngủ, muốn ăn thì ăn, không lúc nào mà chẳng tự tại !

Hoà thượng làm cho mọi người cảm thấy thú vị và thân mật hơn.

Sư  Huệ Tung : “ Thưa Ngài, hành thiền nên bắt đầu tập từ đâu ? ”

-         Bắt đầu tập từ quán tự tại  . – Lại một câu trả lời đặc biệt .

-         Có phải Ngài tu theo Thiền tông ?

-         Không, tôi thiền về Tịnh  độ, niệm Nam-mô A-Di-Đà Phật .

Sư  Huệ Minh : “ Thưa Hoà thượng, niệm Phật có ‘bí quyết ‘ gì ?  ”

-     Không có ‘  bí quyết ‘ gì cả, chỉ quán tâm của mình. Có người  không biết niệm Phật, chỉ  mong được sống lâu; nhưng mong sống lâu để làm gì ? chỉ kéo dài thêm thời gian tạo  nghiệp. Người  biết niệm Phật thì tâm với Phật là một, thêm một năm thọ mạng tức là thêm  một năm “ Vô Lượng Thọ Phật ”.

Sự Huệ Căn nói : “ Trong thời buổi hiện nay, hoằng dương Phật pháp nên theo phướng cách nào thì tương đối tốt ? “

-         Sao ? Như  tôi vừa mới trình bày, các vị lấy học thức để hoằng pháp còn tôi  thì  lấy  niệm Phật để  hoằng pháp, cái nào cũng cần.

      Sư  Tùng Trí hỏi sang chuyện khác :“ Thưa Hoà thượng, nghe  nói nơi này sắp xây lại Đại Điện ? ”

-         Tín  đồ Phật tử phát tâm muốn xây  lại thì  cứ để cho họ làm tôi không bận tâm, không vui mừng, cũng không khó chịu.

Bầu không khí yên lặng trong giây lát .

Lại có người hỏi:“ Xin thưa, khi mới ngồi thiền vọng niệm rất nhiều, làm cách nào để đối trị ?”.

-         Vọng niệm nhiều là nghiệp  chướng nhiều, để trừ vọng niệm thì niệm Phật là tương đối dễ; ngoài  ra, chuyện  thế gian  phải  giảm  bớt đi, -  đó  là điều trong yếu .

Giáo sư  Lam hỏi : “ Có người tin theo ngoại đạo nhưng bản  chất của họ rất tốt, vậy về sau họ sẽ sanh vào cõi nào ? “    

-         Đó là do tâm phân biệt của các anh; theo tôi, mọi người đều như nhau, mỗi tôn giáo đều  có  chỗ tốt của họ nên đối với xã hội đều có  mức độ lợi ích  nhất định. Đây  không phải  là  vấn đề anh tốt  hay  tôi tốt  mà là vấn đề tầng lớp  căn cơ.

Tiếp đó Hoà thượng hỏi lại chúng tôi :

“ Độ chúng sanh, độ bằng cách nào ?  ”

Câu hỏi bất ngờ, mọi người không biết phải  trả lời như  thế  nào.

Hoà thượng tự giải đáp :

“ Độ chúng sanh ” thật ra không phải  là chuyện  dễ, chúng ta phải xuất phát từ  lòng từ  bi  thì chúng sinh mới nghe theo, họ mới chịu để cho chúng ta độ; nếu họ mà không tin theo thì  không có cách gì để độ họ được. Cho nên điều thiết yếu là phải  thuận theo cái  tự nhiên, làm sao mà mỗi  khi gặp chúng ta họ cảm thấy vui  mừng. Độ chúng sinh cần phải tùy duyên hoá độ, phải có  lòng từ  và thuận theo tự nhiên.

Do vậy mà chữ “duyên” ở đây rất là quan trọng .

Sư  Huệ Trí lại hỏi: “ Thưa Hoà thượng, đối với vấn đề thoát vòng sanh tử, Ngài thấy thế nào ?”

-         Thoát vòng sanh tử ? A ! Đâu phải  là chuyện dễ bàn ! Tuy nhiên, muốn  thoát sanh  tử  cũng có biện pháp tương đối giản dị, đó là niệm Phật, nhưng đừng tưởng niệm Phật là dễ, sơ suất một niệm sẽ rơi vào trạng thái ngủ gật (hôn trầm) .

      Một người hỏi : “ Nếu lúc niệm Phật mà buồn ngủ  thì phải làm sao ? ”

-         Buồn ngủ thì cứ ngủ.

Cô sinh viên Thái Nguyệt Tú hỏi : “ Có người niệm Phật cầu thoát khỏi sanh tử, nhưng lại có Bồ-Tát vì bổn nguyện mà trở lại độ sanh, hai trường hợp này có gì khác nhau ? ”.

-         Theo ý tôi, nguyện lực của mỗi bên có khác. Xin hỏi, các vị đi học nguyện  vọng có giống nhau không ? - Ngài trả lời vấn đề thật là khéo

Giáo sư  Lam : “ Tu hành đạt đến trình độ nhất định nào đó rồi, đối với vấn đề  ‘ vãng sanh Tây phương ’ có  thể tự  mình biết được không ? ”

-         Chỉ đến khi lâm chung mới biết được. Ai ai cũng có thể thành Phật, chỉ vì nghiệp  cảm khác nhau nên trước – sau  không giống nhau. Thân người khó có được, vì thế phải nổ lực tu hành. Địa ngục, súc sanh đều do mình tạo ra; thành Phật làm Tổ cũng tự mình mà được. Muốn  thành Phật phải  trải qua kiếp người, phải nắm lấy cơ hội mà tu hành .

Sư  Y Quảng :

“ Niệm danh hiệu Phật phải chăng cũng là ‘ chấp’ ? ”

-         Niệm danh hiệu Phật không phải là ‘ chấp ’, vì có chú ý niệm danh hiệu Phật mới được chánh niệm. Nếu như  niệm mà tán tâm hoặc tâm nghĩ đến danh lợi, thì đó mới gọi  là  ‘ chấp ’.

-         Nhất mực phải niệm Phật, nhất mực phải niệm, - như  vậy có phải là ‘ chấp ’ không ?

-         Đó không phải là chấp mà là tinh tấn .

Sư  Huệ Minh : “ Có người nói niệm Phật bị ma phá, vì sao vậy ? ”

-         Ấy là do tâm tưởng nên mới sinh ma phá, không chú tâm thì mới thấy ma. … 

-         Pháp sư  Thường Ân :

-         Khi niệm Phật nếu như  tâm bị án loạn thì phải làm cách nào ?

-         Chỉ có một cách duy nhất là tiếp tục niệm, tập  trung hết tinh  thần  vào sáu chữ  “ Nam-mô A-Di-Đà Phật ”                                                                  sẽ đối trị được .

Giáo sư  Lam hỏi : “ Ngài nghĩ thế nào về câu ‘ Đới nghiệp vãng sanh ’ ( mang nghiệp [ vẫn ] vãng sanh ) ? ”

-         “ Đới nghiệp bất năng vãng sanh “ ( mang nghiệp không thể vãng sanh) . Câu “ Đới nghiệp vãng sanh ” trong kinh điển không hàm ý nghĩa như người ta thường tưởng.  Tuy ta có tâm nguyện vãng sanh  về Thế giới Cực lạc, nhưng khi lâm chung nếu nghiệp  lực  lớn  hơn  niệm  lực  thì  không  thể  vãng  sanh, nếu nhờ nguyện lực  mà ta được trở lại  làm người, lại tiếp  tục niệm Phật, chuyển kiếp như vậy nhiều lần, niệm cho dến khi nào niệm lực lớn hơn nghiệp lực thì sẽ được vãng sanh “.

Pháp sư  Y Hằng hỏi : “ Khi chuyển kiếp mà sanh vào gia đình Cơ Đốc giáo, không còn niệm Phật nữa thì sao ?”

-         Không phải vậy, đến thời kỳ nhất định, nguyện lực của người ấy sẽ thúc đẩy họ niệm Phật, có chủng tử  của nguyện lực ắt sẽ khiến họ niệm Phật.

Cô Thái Nguyệt Tú hỏi : “ Có người tu hành rất tinh tấn nhưng lại chết vì trọng bệnh hoặc do tai biến, đối với vấn đề ấy Ngài thấy thế nào ? Phải chăng vì định nghiệp khó chuyển ? ”

Đáp : “ Có thể  nói  là định nghiệp khó chuyển, cũng có thể ấy  là trả nghiệp  theo tâm  nguyện. Có người bảo : người tu hành như vậy, chả lẽ không vận dụng được sức tu hành để khắc phục nghiệp lực ? Tôi  có thể nói rằng có tu hành mới bị khổ nạn làm cho điêu đứng khổ sở, đó chính  là công đức tu hành khiến cho nghiệp lực được giải quyết trong đời này ”.

Hoà thượng nhấn mạnh cần phải nhất tâm niệm Phật .

Pháp sư  Hoằng Ý hỏi : “ Trong kinh A-Di-Đà có câu : Không thể thiếu thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sanh vào cõi ấy (Cực lạc). Sao Ngài cho rằng chỉ chuyên tâm niệm danh hiệu Phật thì có thể vãng sanh ?”

-         “ Chỉ cần có đủ lòng tin, được như  thế phước đức, nhân duyên nhất định có đủ. Vấn đề hiện tại  là lòng tin của Ngài; xét cho cùng đó là thứ  lòng tin nào ? Là niềm tin chung chung chăng ? là tin bằng cách niệm năm ba vạn danh hiệu Phật ? là phó thác sinh  mạng vào niềm tin ? hay là niềm tin nhất tâm bất loạn, một niệm không khởi ? Tự bản thân Ngài trang bị cho mình thứ tín tâm nào ? Ngài hãy tự biết lấy, nhân duyên, phước đức có đầy đủ chưa ? ”

Rời khỏi chùa Thừa Thiên, ai nấy như  có cảm giác  là “ lời đồn về Hoà thượng ” và “ Hoà thượng trong thực tế  ” không giống nhau hoàn toàn. Qua phong cách luận đàm của Người, quả là “ biện tài vô ngại ”,  có thể thấy được  mẫu mực của một bậc cao tăng. Điều này không những làm tăng thêm kiến thức cho chúng tôi mà còn khích lệ  tín tâm của chúng tôi nữa . 


 

 HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂM NIỆM PHẬT TAM-MUỘI

 Vân  Lâm

 

      Chín năm trước, tiến sỹ Châu có người bạn  Mỹ – tiến sỹ King, ở Hollywood – đến  Đài Loan để tham vấn giáo sư  Nam vài vấn đề liên quan đến Phật pháp. Tiến sỹ King tương đối trẻ, - tuổi chừng trên ba mươi, xuất thân từ một gia đình Cơ Đốc giáo. Anh học ngành âm nhạc, nhưng  đặc biệt rất  thích nghiên cứu Phật pháp. Anh đã xem qua nhiều sách của các nhà thiền học, kinh Đại Bát Nhã và một số kinh điển Tiều Thừa bằng tiếng Anh, và đã tu tập thiền định  trên một năm ở Tích Lan. Anh là một trong số những thanh niên Phật tử phương Tây, đã từng hấp thụ  nền giáo dục cao đẳng hiện đại.

Trong thời gian ở Đài Bắc anh ta có cùng với thính chúng đến nghe giáo sư  Nam thuyết  giảng, thông qua phiên dịch của tiến sỹ Châu. Vì ngôn ngữ  bất đồng, anh phải hết sức cố gắng mới tiếp thu được nội dung bài giảng. Sau đó anh nhờ tiến sỹ Châu đưa đi thăm các bậc thiện tri thức am hiểu đạo ở Đài Loan. Lúc bấy giờ tiến sỹ Châu vì rất bận việc không đưa đi được nên đến tìm tôi, nhờ tôi dẫn anh ngoại kiều này đi tìm sư  hỏi đạo và du ngoạn đó đây. Tôi bảo tôi không biết ai là thiện tri thức am hiểu đạo làm sao mà giúp được. Tiến sỹ Châu năn nỉ nhiều lần, không thể  từ  chối, tôi đành miễn cưỡng nhận lời .

Tôi nói : “ Biết tìm ai đây ? ”  Tiến sỹ Châu bảo : “ Tuỳ ý ” . Tôi lại hỏi ý kiến King, anh  ta nói rất thích gặp hoà thượng tu thiền và muốn làm quen với những phật tử, không cứ  là tại gia hay xuất gia. Lúc ấy tôi cảm thấy bối rối, biết ai là người tu thiền đây ? Tôi hỏi anh ta: “ Anh sinh trưởng trong gia đình Cơ  đốc giáo phương tây, sao lại thích thú về  vấn đề này ? ” Anh ta cười đáp : “ Tôi cũng không biết, có lẽ  kiếp trước tôi cũng đã thích như  vậy. ” Tôi hỏi : “ Người Mỹ các anh cũng tin có kiếp trước sao ? ” Anh  trả lời một cách nghiêm túc : “ Sao lại không ?”

Chuyện trò bâng quơ với nhau như  vậy, thế rồi đôi bên hiểu biết nhau. Hôm sau, tôi định đưa anh đến bái kiến Hoà thượng Ấn Thuận ở Gia Nghĩa, nhưng vì nơi đó quá xa nên lại thôi, cuối cùng quyết định đến gặp nhà thơ Chu Mộng Điệp ở cửa hàng sách đường Vũ Xương, rồi sẽ đến chùa Thừa Thiên  bái kiếân Hoà thượng Quảng Khâm.

Tiến sỹ King và nhà thơ gặp nhau, chẳng biết “ khế cơ ” hay “ không khế cơ ” mà đôi bên chẳng trao đổi với nhau điều gì. Ba chúng tôi đứng nơi hành lang trước tiệm cà phê Minh Tinh, giữa dòng người xuôi ngược, cùng yên lặng …, được non nửa giờ, tôi và King cáo từ .

Chúng tôi lên xe buýt đi Thổ Thành …, xuống xe buýt xong lại thuê  taxi lên núi. King nói để anh trả tiền taxi, tôi bảo tôi cũng cùng đi, để tôi trả một nửa, anh liền bảo tiền xe buýt hồi nãy anh cũng phải chịu một phần.

Lên đến núi, tới Đại Điện thấy Hoà thượng đang ngồi trên tọa cụ hình hoa sen ở  trong chánh điện. Tôi vốn  quen mỗi khi gặp Hoà thượng là đảnh lễ, liền đến trước Hoà thượng cung kính cúi lạy; không ngờ rằng anh chàng ngoại quốc trẻ tuổi này cũng vội vàng quỳ theo tôi mà lạy. Hoà thượng vẫn ngồi yên chẳng nói lời nào, sau đó Người đến ngồi trên chiếc ghế mây gần cửa sổ, chúng tôi cùng đi theo sau Người. Thấy có mấy ni sư  đứng quanh bên Người, chuẩn bị phiên dịch, tôi nói với họ là tiếng Phúc Kiến tôi cũng hiểu được chút ít, có thể phiên dịch được, khỏi phiền đến các vị.

Đầu tiên tôi giới thiệu sơ lược tiến sỹ King với Hoà thượng, rồi thưa rằng chuyến sang Đài Loan đặc biệt  của anh lần này là để tìm học Phật pháp, xin Sư phụ khai thị cho anh .

Hoà thượng nghe xong, hỏi anh King :

-           Anh bao nhiêu tuổi ? - King đáp :

-           Ba mươi lăm tuổi. ( Tôi  cố gắng dịch thật nhanh ).

-           Anh có vấn đề gì cần hỏi ?

-           Con không có vấn đề gì, chỉ đến thăm Ngài.

-           Anh thích gì  trong Phật pháp ?

-            Thiền tông.

-            Tịnh độ cũng rất tốt, Tịnh độ cũng là thiền.

   Mọi người yên lặng giây lát …,  có ni sư thị giả mang đến mấy cốc trà mời chúng tôi uống. Tôi và King mỗi người nhận lấy một cốc .

       Nhân dịp, lúc ấy Hoà thượng mới hỏi :

-           Anh đang cầm cái gì trong tay vậy ?

-            Trà.

       Tiếp đó Hoà thượng bảo King không nên do dự, hãy trả lời ngay,

       “ cái gì làm cho anh  uống trà ? ”

       Tiến sĩ  King đáp : “ Khát !” Tôi thì trả lời : “ Miệng khô !”

-           “ Không đúng ! Không đúng ! ”

Hoà thượng tự nhiên chẳng chút khách sáo, ngay phút đầu Người đã “ giáng cho một gậy ”, làm anh  King bối rối không nói được lời gì.

Ai cũng cứ  nghĩ  cái làm cho mình uống  là “ khát ” mà !.

Hoà thượng thấy King không nói gì, an ủi anh ta :

-             Thường ai đến đây  tôi cũng đều để  họ niệm Phật, không nói chuyện gì khác. Trước khi  anh đến đây, tôi không biết anh đến; anh đi rồi, tôi cũng không biết anh đi đâu. Hiện giờ anh đang uống trà, tôi hỏi anh về uống trà, uống trà chẳng phải là do khát, khát chỉ là một hiện tượng.

        Nói xong Hoà thượng lặp lại một lần nữa rồi bảo :

-             Tôi nghe cư sỹ Vân nói anh có tu ở Tích Lan nên tôi chỉ nói đùa với anh cho vui vậy  thôi.

        Im lặng một lát, tiến sỹ King lại hỏi :

-             Con xem trong kinh sách có thấy nói “ niệm Phật tam-muội ” điều ấy có thật hay không ? Hoà thượng đã đạt đến cảnh giới đó chưa ?

Hòa thượng lại nói : “ Trước khi anh đến đây, tôi không biếât anh đến, anh đi rồi tôi không biết anh đi đâu;  bây giờ anh hỏi tôi, tôi nhớ lại để trả lời cho anh : khoảng 50 năm về trước tôi có một lần ở vào trạng thái mà tôi cho rằng đó là niệm Phật tam-muội, anh  bảo làm sao mà tôi không biết.

King nghe vậy, lấy làm phấn khởi nói anh rất thích nghe. Tôi liền  phiên dịch : “ Anh ấy xin Sư  phụ khai thị cho ”. – Người nói :

-             Khoảng 50 năm trước, khi tôi ở Cổ Sơn - PHÚC CHÂU, có một lần cùng với  tăng chúng vào chánh điện hành hương niệm Phật kinh hành. Mọi người  đều theo nhịp mõ niệm Nam- mô A-Di-Đà Phật, Nam- mô A-Di-Đà Phật . . .  Tay tôi bắt ấn, vừa đi  vừa  niệm, đột nhiên  tôi  đốn . . .

Lời Hoà thượng nói tôi dịch lại từng câu, đến tiếng “đốn”, đầu tôi căng ra, gượng dịch  thành “once suddenly a stop” [thình lình dừng lại].  Hoà thượng liền bảo tôi : “ Anh  đừng dịch sai, không phải là   “ đình chỉ ”  [dừng lại] đâu . “ Tiến  sỹ King thấy Hoà thượng ra dấu giải thích, anh tỏ vẻ hiểu được ý Hoà thượng ; tôi biết mình dịch sai, cảm thấy thật xấu hổ .

Rồi Hoà thượng cho biết, lúc bấy giờ tiếng niệm “ Nam-mô A-Di-Đà-Phật ” lúc  đầu vang vọng trên nền chánh điện, về sau dần dần chuyển lên cao. Hoà thượng vừa nói tay vừa từ  từ  uyển chuyển diễn tả, miệng thì niệm Phật … giọng thâm trầm hồn hậu. Người nói lúc ấy không  còn  cảm giác gì về chùa, về người và sự vật chung quanh, chỉ còn nghe hòa âm tiếng niệm Phật bất tuyệt từ dưới vần chuyển lên cao, đến tận không trung, khắp Pháp Giới vang vọng danh hiệu  đức Phật A-Di-Đà .

Tôi hỏi : “ Thưa, lúc ấy Sư  phụ có hành  hương [kinh hành] không ? ”

Hoà thượng nói lúc đó không biết mình đang hành hương hay không hành hương, cũng chẳng rõ mình đang ở đâu, chỉ còn tiếng “ Nam-mô A-Di-Đà-Phật ” ø mà thôi. Đến  khi thầy tri  sự  gõ khánh báo hiệu mãn thời công phu, mọi người trở về liêu phòng mà Người vẫn “ Nam-mô A-Di-Đà-Phật …”,  cứ  như  thế suốt trong đi, đứng, nằm, ngồi …, khi lên chánh điện qua đường … hoàn toàn hoà nhập vào âm thanh “Nam-mô A-Di-Đà-Phật” trong tiếng chim hót và trầm hương. Trạng thái như vậy kéo dài trong ba tháng .

Hoà thượng cười nói tiếp : “ Thật là tuyệt vời, chẳng qua  tôi thể nghiệm  lại bằng ký ức. Ấy  có phải là niệm Phật tam-muội hay không, tôi  chỉ kể ra cho anh tham khảo. Tôi  thì cho rằng đó là niệm Phật tam-muội, còn anh nghĩ phải hay không phải đó là phần  của anh”

Hoà thượng chân tình thổ lộ như vậy vì muốn đem thực tế kinh nghiệm tu trì của mình giải nghi cho người. Tiến sỹ King xong cảm thấy được lợi lạc khôn xiết, lòng tràn đầy pháp hỷ, vô  cùng  phấn  khởi. Lúc ấy các ni sư  thị giả sợ Hoà thượng mệt liền mời Người đi nghỉ. Tôi nghĩ  bụng, lên núi lần này thật lợi ích, không hoài công leo núi, rồi bèn đứng lên xin cáo từ  lui ra, không  ngờ  anh Mỹ kiều vừa được hưởng hương vị Phật Pháp lại cung kính quỳ trước Hoà thượng cúi đầu lạy.

Chúng tôi ra khỏi điện, nhân dịp thời gian còn sớm, đi dạo trong các lan can quanh điện, thưởng ngoạn cảnh non xanh núi biếc của chùa Thừa Thiên. Tôi giới thiệu với King, phía trước  điện là động Nhật Nguyệt, nghe kể Hoà thượng lúc đầu mới tới Đài Loan đã từng đóng cửa động ẩn tu, Người có thể từ  bên này Đại Điện bay qua bên kia, - không biết có thật hay không. Lúc hai chúng tôi đang đi dạo không để ý . . .  quay đầu lại thấy Hoà thượng từ  đàng sau đi tới. Tôi vụt kêu lên : “ Sư  phụ, sao Ngài lại ra đây ? ” Hoà thượng tươi cười cởi mở : “ Cũng đi chơi đây mà ! ”

Dạo ấy Hoà thượng rất ít khi ra ngoài, tôi thấy mấy ni sư đứng trước cửa điện nhìn về phía chúng tôi có vẻ rất quan tâm, chắc là sợ Hoà thượng đi xa, lại được dặn trước nên không tiện đến gần.

Tôi bổng cao hứng hỏi về lời đồn Hoà thượng từng bay từ  núi này sang núi kia. Hoà thượng đáp :” Làm gì có ! đừng nói nhảm .”

Tôi quay sang tiến sỹ King : “ Hôm nay anh thật có duyên may ! Hoà thượng thường ngày ít khi ra ngoài ”. Và tôi nói với Hoà thượng : “ Con thấy Sư  phụ hợp ý anh ấy ”. Hoà thượng cười :

-      Không ! không  phải ! Tôi chỉ  cùng với  các anh đi dạo chơi thôi

Ba người cùng đứng lại, không trao đổi thêm lời gì . . . Tôi nói với King đây chính là lúc nên cùng niệm Phật, và tôi bắt đầu niệm … , King không  niệm. Hoà thượng đứng bên, nhìn  tôi … rồi nhìn King … , khoảng ba phút; tôi thấy như  vậy là đủ, lại một lần nữa xin cáo từ. Hoà thượng đưa chúng tôi một đoạn đường, tôi thỉnh Người trở lui .

Khi xuống nuí, xe taxi chúng tôi chạy dọc theo đường núi quanh co, ánh nắng hiền hoà lung linh khắp núi rừng. Tôi cảm thấy thân tâm vô cùng sảng khoái. Tiến sỹ King quay sang hỏi tôi bản nguyên văn hoá Trung  Hoa có nói về Tam-muội hay không ? Tôi chẳng có chút hiểu biết gì, tùy tiện bằng thứ  tiếng Anh luộm thuộm dịch đại câu trong sách Luận Ngữ  đã ghi chép được : “ Quân tử vô chung thực (nhật) chi gian vi nhân, tháo thứ tất ư thị, điên bái tất ư thị .

 

(君子无终食(日)之间违仁,造次必於是,颠沛不必於是)

 

Và câu “ Tử tại Tề văn Thiều, tam nguyệt bấùt tri nhục vị . ”

(子在齐闻,三月不知肉味)

-- cho anh ta tham khảo .

[ Nghĩa hai câu trên đây :

* Người quân tử không bao giờ làm trái điều nhân dù trong khoảng một bữa ăn (một ngày) [?], dù trong cơn vội vàng cũng giữ  lấy điều nhân, dù trong lúc ngữa nghiêng cũng giữ lấy điều nhân.

* Đức Khổng Tử  tại nước Tề nghe nhạc Thiều, ba tháng Ngài không biết đến mùi vị thịt . – ND ].

Nghe xong King vô cùng thích thú, nói :

-           Ấy hẳn phải là một thứ  Tam-muội đấy chứ !

       Tôi cười :

-           Đó là một vấn đề lớn, tôi cũng chẳng biết nũa !

 

 

Nam-mô A-Di-Đà phật


 

 

HỒI KÝ VỀ HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂM

Tông Ngang

 

1.              Gặp Hoà thượng lần đầu tiên.

 

                   Gặp lần thứ hai như  “ tìm được bảo vật”.

 

Tôi  được gặp Hoà thượng lần đầu vào năm 1976. Lúc đó Ngài không giảng dạy gì, chỉ bảo chúng tôi tinh tấn niệm Phật. Người bạn đồng học ở BAN VĂN HOÁ PHƯƠNG ĐÔNG thuộc  TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHÍNH TRỊ cùng đi với tôi cảm thấy vô cùng thất vọng. Theo lời loan truyền, Hoà thượng là một nhân vật truyền kỳ, nhưng khi hội kiến thì thấy bình thường, không có gì khác lạ. Chúng tôi không ngại xa xôi mà đến, nhưng khi trao đổi với Người vài câu đều lấy làm thất vọng. Trong bọn tôi có một anh tự cho mình học rộng biết nhiều, nói : “ Hoà thượng già một chữ  không biết, có thể dạy được gì ! “ Chúng tôi mê muội nên trong bụng cũng nghĩ như  vậy, - như  người có mắt hỏi đường người mù thì biết được gì ! Thế  là hứng chí khi đến, cụt hứng khi về.

Năm sau tôi tham gia Hội niệm Phật do Hoà thượng Sám Vân tổ chức ở Đài Bắc trong bảy ngày. Ngài Sám Vân rất mực kính trọng Hoà thượng Quảng Khâm. Sau khi mãn khoá niệm Phật, một đoàn đông đảo bảy, tám chục Người lên chùa Thừa Thiên thăm viếng Hoà thượng. ( Lúc bấy giờ chùa Thừa Thiên xây cất rất đơn sơ, chỉ có vài phòng tăng, không huy hoàng tráng lệ  như  ngày nay).

Nơi phương trượng của Hoà thượng, cả trong lẫn ngoài người ta đông nghẹt. Có người đến  để xin chỉ dạy, có người vì hiếu kỳ mà đến, cũng có kẻ lên núi chơi tiện đường ghé lại.

Hoà thượng ngồi trên ghế mây, im lặng ; Pháp sư  Sám Vân bước vào, hướng dẫn đoàn tới đảnh lễ Hoà thượng, sau đó mọi người ngồi xuống trên nền đất. Pháp sư  Sám Vân và Hoà thượng  thăm hỏi nhau xong, cả phượng trượng yên lặng  . . .  Hoà thượng thần sắc tươi vui, có vẻ người rất hài lòng. Thấy tất cả im lặng, người nhìn đại chúng hỏùi :

“ Các vị đã hoàn mãn tuần niệm Phật, đã tìm thấy bảo vật, được của báu nên đưa  ra phụng hiến, .. .  nào nói đi chứ ! ” 

Nghe Hoà thượng nói như vậy Người này nhìn Người kia như  bảo nhau : được của báu  không phải là tôi, vị nào được của báu vậy ? mau trình ra, không thì thật là xấu hổ ! Sau một hồi đưa mắt hỏi nhau, rốt cuộc chúng tôi – hàng ngay bàn chuyện trời đất, giảng kinh nói pháp làu làu – đến lúc này chẳng ai thốt ra được nửa lời kinh kệ .

Trong khi mọi người im lặng, không khí trở nên nặng nề, bỗng nhiên có tiếng “ Nam-mô A-Di-Đà Phật ” từ  miệng một tỳ kheo ni phát ra, mọi người liền quay đầu lại chăm chú nhìn vị tỳ kheo ni trẻ tuổi, xem xem vị thần thánh nào thốt lên như sư tử hống vậy ! Rồi lại đưa mắt nhìn về phía Hoà thượng, xem Ngài ứng xử thế nào. Chỉ thấy Hoà thượng lắc đầu chỉ tay vào một em bé trước mặt nói :

-                 Câu ấy em bé ba tuổi cũng có thể nói được .

Tiếp đó, không khí trở lại trầm lặng như  trước, chỉ thấy Hoà thượng, qua đôi mắt sáng chiếu tựa hồ  như dò hỏi ai là người giấu của báu mà chẳng trình ra cho người khác xem, - người đó là ai ?

-                 Nào, nói đi . . .  nói đi chứ !

 Hoà thượng như một lão tướng từng trải trăm trận, binh đến dưới thành, lão tướng đích thân chỉ huy .

Trườc ánh mắt long lanh và giọng nói kiên quyết thúc bách của Hoà thượng ai nấy bặt tiếng như  ve mùa đông, cảm thấy hơi thở mình dồn dập. Lúc ấy tôi mới nhận ra, đây không phải là thư sinh luận chiến mà đúng là giữa chiến trường đầy gươm giáo. Nếu không thực sự  tôi luyện công phu ắt không đủ bản lĩnh để xông pha trận mạc.

Có vị tỳ kheo ngồi phía trước, như  bị Hoà thượng để mắt chú ý làm cho thân thể mất tự  nhiện ; vị tỳ kheo động thân … đắn đo vài giây … rồi như  kẻ “ dấu đầu lòi đuôi ”, trình ra bài kệ :

Quá khứ tâm bất khả đắc

Hiện tại tâm bất khả đắc

Vị lai tâm bất khả đắc .

                            过去心不可

              在心不可得

              未来心不可得            

 Hoà thượng nghe xong nét mặt vẫn điềm nhiên, nói :

-                 Chúng ta đóng cửa lại nói với nhau, ta không nên cho rằng chiếc áo này ( Người chỉ chiếc áo tu sỹ trên mình ) tùy tiện mà mặc được, mặc chiếc áo này một cách chân chính không phải là dễ !

Sau đó bầu không khí lại một lần nữa tĩnh lặng. Hoà thượng thấy mọi người không ai còn trình ra của cải gì nữa,  Người vẫn với ánh mắt sáng nhiếp phục, vui vẻ hiền từ nói :

-                 Người xưa “ đả Phật thất ”  [ niệm Phật bảy ngày ] đúng kỳ thì chứng nghiệm, nếu đúng kỳ hạn mà không chứng nghiệm hoá  ra “ nhờ Phật để có ăn  ” hay sao ? ( tức là mượn  cớ niệm Phật để được ăn cơm) . – Dừøng lại vài giây Hoà thượng nói tiếp :

-                  “ Đả Phật thất ” mà mong được cái gì như vật báu là tham. Mọi người đến đây với tôi, cứ tưởng có được cái gì đó mang về, ấy cũng là tham .”

          Người chưa dứt lời, tận cuối phòng có hai người rỉ tai nhau, có vẻ như  nói lén rằng “ chúng mình không tìm được bảo vật, Hào thượng bảo đưa bảo vật ra xem, Hào thượng có bảo vật  mà còn đòi bảo vật của chúng ta, ấy chẳng phải là hai lần tham ? ” Lời rỉ tai vừa xong, Hoà thượng như  biết mà không để ý, nói tiếp :

-                  Nếu ai nghe mà hiểu lời tôi nói, thì  bảo vật đặt trước mắt ắt lấy được ngay; còn nghe mà không hiểu, không nhận ra, thì dù có hai tay bưng dâng trước mặt cũng chẳng có được gì . . .

          Hoà thượng nói chưa dứt lời bổng có một người trẻ tuổi nói :

-                  Xin thưa, Hoà thượng có lần chuỗi hạt không ?

-                 Không !

          Thấy  Hoà thượng không đeo tràng hạt anh ta cụt hứng, nhìn sang Pháp sư  Sám Vân  bên cạnh tay đang lần chuỗi hạt niệm Phật, anh chuyển hướng nhắm mũi tên sang Pháp sư,  lém lỉnh hỏi : “ Thưa Pháp sư, Ngài có lần chuỗi hạt không ? ” – Pháp sư  đáp giọng chắc nịch :

-                 “ Có ! ”

          Anh chàng thanh niên nói một cách tỉnh bơ :

-                 Ngài cho tôi tràng hạt. – Pháp sư đáp :

-                 Tôi đang niệm phật, không thể cho anh. Nếu tôi cho anh, anh không được vứt nó đi. – Anh thanh niên chìa tay ra nói xẵng:

-                 Đưa tràng hạt đây !

          Tiếng nói như còn bên tai, bổng Hoà thượng chỉ thanh niên bảo :

-                 Hiện anh đang niệm đấy !

          Tức thì anh chàng thanh niên nọ mất hẳn khí sắt kiêu ngạo, im lặng không nói lời nào .

          Hai vị Pháp sư đã đồng diễn “ quảng trường thiệt ” [ lưỡi Phật ], từ  không nhập có; từ có nhập không, phối hợp có-không chặt chẽ, sự  việc diễn ra làm cho mọi người vô cùng tán thán .

 

2.              Chúng sanh bệnh , Pháp sư cũng bệnh

              

          Vào khoảng năm 1978, nghe nói Hoà thượng pháp thể suy yếu, Người tỏ ý muốn vãng sanh Tây Phương, đại chúng trong chùa rất lo lắng, mời lương y lên núi bắt mạch cho Hoà thượng. Người không muốn làm náo động đại chúng, tăng chúng khẩn cầu đôi ba lần Người mới miễn cưỡng để cho bác sỹ chẩn đoán. Sau khi cẩn trọng xem mạch cho Hoà thượng bác sỹ  tỏ vẻ rất ngạc nhiên, ông ta bắt mạch  nhiều lần…, vừa như  lắng nghe vừa như  trầm ngâm suy nghĩ, cuối cùng phát biểu : “ Mạch của Hoà thượng hoàn toàn không giống mạch người thường, nhưng không chẩn đoán ra bệnh gì”. Hoà thượng mĩm cười chỉ chúng đệ tử  đang quỳ trước mặt, nói với lương y :

-                 Họ đều  có bệnh, tiện thể nhờ xem mạch cho họ luôn.

          Ai nấy đều lấy làm lạ nhìn Hoà thượng, nhưng cùng mỉm cười cảm thấy trong lòng bớt lo. Sự việc có vẻ giống như  trong kinh Tịnh Danh, khi ngài cư sỹ Duy Ma nói : “ Chúng sanh có bệnh, tôi cũng có bệnh ! ”. Theo lời vị Pháp sư  trong chùa thì Hoà thượng có lần bảo rằng khi Người vãng sanh Người sẽ thị  hiện bệnh tướng, cõi Ta-bà quá khổ, chần  chừ  ở đây chịu sao nổi ?

          Nghe tin Hoà thựơng bệnh, mọi người theo nhau lên núi thăm. Pháp sư  Sám Vân  cùng chúng đệ tử  cũng vội vàng lên núi “ thỉnh Phật trụ thế ”. Khi chúng tôi gặp Hoà thượng thấy Người đang ho từng cơn, ho xong lại khạc nhổ, nhưng chẳng thấy nhổ ra vật gì. Có lúc Người nói một câu mà phải dừng ngắt mấy lần, cơ thể rung giật theo từng cơn ho, ai nhìn thấy cũng xót xa. Ngài Sám Vân và đại chúng đồng thanh khẩn cầu Hoà thượng từ  bi nghĩ đến chúng sanh đau khổ, trụ  thế  thêm vài năm nữa. Hoà thượng nói Người không thể tự  làm chủ  được, thân xác Người như  ngôi nhà gạch mục nát, dù có gắng gượng duy trì thì chỉ một cơn gió to ập đến cũng không thể nào chịu nổi, chi bằng đi sớm một chút, hoán chuyển một thân thể  “ chắc như  xi măng cốt thép ” mà trở lại mới có thể hoằng pháp lợi sanh. Nghe thế  ai cũng hết sức năn nỉ, vì nếu Người có trở lại thì  ít nhất cũng phải mất hai mươi năm, trong hai mươi năm ấy chúng sanh biết nương tựa vào ai; thiết tha xin Người ở lại thêm vài năm nữa. Hoà thượng bảo đơn điền của Người đã hết khí lực, nói không ra tiếng mong gì đáp ứng nhu cầu của chúng sanh, gắng gượng ở lại cũng vô nghĩa. Mọi người lại van xin Hoà thượng lưu lại, chỉ cần Người yên tĩnh ngồi đó, vô hình trung  cũng đủ làm tăng  trưởng niềm tin cho đại chúng. Cứ như thế, mỗi người góp một câu… cho đến giờ  ngọ trai mà Người vẫn tỏ ý không trụ thế nữa. Pháp sư  Sám Vân  quyết định tổ chức “ Tuần niệm Phật Dược Sư  tiêu tai diên thọ ” (Tiêu tai diên thọ Dược Sư Phật Thất ) tại chùa Thừa Thiên  để cầu an cho Hoà thượng, sau đó Pháp sư  bước vội sang trai đường .

         Trong lòng ai nấy đều mang tâm trạng bất an. Thế rồi đang giữa giờ cơm, một vị tỳ kheo ni vẻ mặt hớn hở tới trước ngài Sám Vân thưa nhanh : “ Kính bạch Pháp sư, Hoà thượng nhận lời không đi, lại còn mời Pháp sư  khai khoá ‘ Đả Phật Thất  ‘ [ Tuần niệm Phật bảy ngày ], có điều là Hoà thượng bảo tốt nhất nên khai khoá niệm Phật A-Di-Đà “.

         Mọi người nghe nói đều mừng rỡ, bất luận là khoá lễ niệm Phật Dược Sư  hay niệm Phật A-Di-Đà đều được cả, miễn sao Hoà thượng chịu ở lại là qúy nhất. Lúc ấy ai cũng ăn  ngon  miệng, trút hết nỗi ưu uất bất an từ trước. Có người sốt ruột, lên lầu xem bệnh tình Hoà thượng thế nào, thấy Người đang ung dung đi tản bộ bên ngoài phương trượng . . .

          Đó là nhân duyên Pháp sư  Sám Vân mở  “ Tuần niệm Phật ” ở chùa Thừa Thiên  và cũng là nhân duyên chúng tôi được gần gũi Hoà thượng, được biết thêm về cuộc đời của Người .

 

3.              Một cuộc sống nghèo khổ ;

          một cuộc lữ hành gian nan

 

          Hoà thượng Quảng Khâm sanh ngày 26 tháng 10 âm lịch, năm Quang Tự  thứ 18 (1892), đời nhà Thanh. Người họ Ngô, quê huyện Huệ An, phủ Chương Châu, tỉnh Phúc kiến. Gia đình rất nghèo, lúc Người lên 3-4 tuổi, ông anh cả cưới vợ  mà không có tiền, Người bị đem bán  cho gia đình họ Lý ở Tuyền Châu, huyện Tấn Giang. Nhà họ Lý làm nghề nông, trồng cây ăn trái trên sườn núi tạm sống qua ngày. Cha mẹ nuôi không có con nối dõi nên xem Người như con ruột. Lúc nhỏ Người rất yếu đuối và nhiều bệnh tật. Cha mẹ nuôi rất lo lắng, để cầu an cho con, họ bèn  theo tập tục dân gian đem Người đến ngôi chùa Quan Âm gần đó khấn dâng cho Bồ Tát Quan Âm làm con nuôi. Việc làm này chính là nhân duyên trọng yếu của Người đối với Bồ Tát .

            Người vốn có tuệ căn tiền kiếp, do vì mẹ nuôi ăn chay nên năm lên bảy cậu bé cũng tự nguyện nhất định ăn chay theo mẹ. Đến năm 1900 , cậu lên chín tuổi, bất hạnh mẹ  nuôi qua đời, hai năm sau cha nuôi cũng tạ thế. Trong một thời gian rất ngắn vô thường đã cướp đi những người thân yêu nhất. Cậu bé tứ cố vô thân, không  còn nơi nương tựa, thể lực lại yếu đuối, côi cút giữa cõi đời không biết đi về đâu ! Đợi khi an táng cha mẹ  cậu xong, những người bà  con sắp xếp cho cậu đi Nam Dương sinh sống. [ Nam Dương : chỉ chung các tỉnh Giang Tô, Chiết Giang, Phúc Kiến  và Quảng Đông . ND ]

          Ban đầu Người đi làm thuê như quét dọn, nấu cơm cho tiệm buôn để đủ  sống qua ngày. Tuổi lớn dần, thân thể và khí lực tăng trưởng, Người nhập theo thiên hạ kết đội lên núi đốn cây mở rừng, tuy rất vất vả nhưng kiếm khá nhiều tiền và tương đối tự do .

          Một hôm, chiếu theo tiền lệ, đến thời gian giải việc ra về ; trong lúc ai nấy chuẩn bị lên “ xe đẩy ” để xuống núi Người bỗng trực giác biết ngồi xe như vậy không an toàn, liền cảnh báo mọi người không nên đi xe. Nhưng vì ai cũng nôn nóng về sớm, cho lời nói của Người là vu vơ, không ngờ chiếc xe đẩy sau đó bị tai nạn lật lăn xuống hố. Ai cũng cho là điều kỳ lạ. Ở trên núi tuy Người làm việc rất cực nhọc nhưng vẫn giữ một mực ăn chay. Sau khi xảy ra biến cố  ấy người ta nửa đùa nửa thật bảo : “ Anh đã kiên trì ăn chay  như vậy, lại biết trước việc như  thần sao không trở về lại Tuyền Châu đi tu  ? ” Đó chỉ là lời nói đùa, nhưng Người tỉnh mộng ! Hồi tưởng lại cha mẹ nuôi lúc sinh tiền đang tuổi tráng niên mà chết là chết, mình đây sớm muộn gì cũng phải đi theo con đường ấy ! Sao lại phải đi con đường lẩn quẩn ?

Thế là Người thu xếp hành trang trở lại cố hương, quyết chí xuất gia .

 

4.              Hai mươi tuổi xuất gia ,

          quyết tâm tu khổ hạnh .

 

          Năm 1911 Sư 20 tuổi, vào chùa Thừa Thiên phủ Tuyền Châu xin xuất gia. Thừa Thiên Thiền Tự  là một ngôi chùa của đế vương, rất cổ kính. Tương truyền  chùa này xây vào thời  vua Anh Tông, niên hiệu Chánh Thống nhà Minh (1436 – 1449) cách đây trên 500 năm, đất rộng 36 hecta. Lúc bấy giờ  có một vị Cần Vương sinh dã tâm, thấy nơi  này phong thuỷ cực tốt và đất rộng, mưu đồ chiếm lấy để dựng cơ nghiệp đế vương. Nhưng trong điện  thiếu nước, theo phép  thuật trong một đêm phải đào cho được 100 cái giếng, nếu không thì nghiệp đế  chẳng thành. Cần Vương bèn chọn ngày tốt và tuyển thợ đào giếng . . . , thấy nước vọt lên ông ta rất mừng, không ngờ  ào đến  cái  99 thì gà gáy sáng, mặt trời ló dạng; ông ta hoảng hốt toát mồ hôi lạnh, chỉ vì một cái giếng chót chưa xong mà nghiệp đế trong giây phút trở thành bào ảnh. Cần Vương than tiếc  tự  biết phước đức không đủ, bèn đem phụng hiến  để làm chùa đặt tên là Thừa Thiên Thiền Tự  .

          Chúng tôi dường như có duyên nên nới đến chùa Thừa Thiên tham quan. Thấy bảng tên chùa chung quanh chạm hoa văn hình rồng, trên có hai chữ  “ Sắc Tứ ”, chính giữa bốn chữ  lớn “ Thừa Thiên Thiền Tự ” đứng xa cũng có thể đọc được. Không thể nào qua tấm biển trên cửa chùa mà biết được truyền thuyết nói trên là thật hay giả; dù sao nhờ sự  tích  ấy mới rõ chùa có nguồn gốc  lâu đời : truyền thuyết thì đượm màu sắc thần bí và trong chùa thì còn lại rất nhiều di tích cổ . Hai bên con đường lát đá cổ kính có hai tháp cao sừng sững, một trong hai cái là “ Tháp Phi Lai ” mang tính truyền kỳ. Hai tháp quy mô cân xứng đối diện nhau ; tuy bề ngoài giống nhau nhưng Tháp Phi lai quanh năm sạch sẽ một hạt bụi cũng không bám, còn tháp kia đầy dẫy những phân chim, bụi đắp như  trát phấn, thấy mà chẳng nỡ nhìn. Khách hành hương đến  đây ai cũng dừng lại suy nghĩ, không hiểu lý do vì sao như  vậy. Chùa này có tám cổ tích, như  “ Nguyệt đài đảo ảnh ” (Bóng trăng phản chiếu), “ Thạch quy thực mễ ” (Rùa đá ăn gạo),  “ Sư  tử thổ yên ” (Sư tử  phun khói ),  “ Thạch  mai hoa hương ” (Hoa mai đá tỏa hương thơm), “ Nhất trần bất nhiễm ” (Một hạt bụi không dính), “ Long Vương Tỉnh ” (Giếng Long Vương), “ Anh ca thổ vụ ” (Anh Vũ phun sương). Thiên hạ ai cũng thích nói đến những kỳ quan sống động ấy. Tiếng đồn càng lan xa càng làm tăng thêm tính chất thần kỳ .

Ngày nay người ta chỉ còn ngậm ngùi hoài cổ, không biết căn cứ  vào đâu để khảo chứng. Duy những cái không bị huyền thoại làm biến dạng đó là kiến trúc hùng vĩ, trong chùa có Thiền đường, Niệm Phật đường, Pháp đường, Tổ đường, Khách đường hoành tráng, Đại Điện có thể chứa ngàn người, tăng chúng thường trú có hơn 600 người, quả là một “ Tòng lâm cổ sát ”  oai nghi .

Khi chưa vào tu trong chùa Thừa Thiên, Sư đã tự nhủ lòng : mình phước đức còn kém, nếu xuất gia tu chưa đắc đạo mà nhận của thập phương cúng dường một cách rộng rãi, e rằng không báo đáp nổi khiến cho đạo nghiệp khó thành. Do vậy, trước khi vào chùa Sư quyết chí rèn luyện giảm ăn bớt ngủ, mỗi ngày chỉ ăn một bữa, ngủ dưới gốc cây chứ không ngủ nghỉ trên giường chiếu, giữ được như thế rồi mới xuất gia làm tăng. Sau khi xuất gia, Người quyết tâm khổ  hạnh, ăn  những món mà Người khác không thèm ăn, làm những việc mà người khác không muốn làm. Chùa Thừa Thiên lấy tám chữ  “ Phật Hỷ Chuyển Thụy Quảng Truyền Đạo Pháp ”

(佛喜瑞广传道法

để  truyền thừa Pháp mạch. Lúc bấy giờ vị trụ trì chùa Thừa Thiên là Ngài Chuyển Trần , còn Sư Quảng Khâm là đệ tử  của Pháp sư Thuỵ Phương – tu khổ hạnh. Từ  chỗ  đó mà biết được sở  nguyện của Người.

Pháp sư  Thuỵ Phương tu khổ hạnh quá khắc khổ nên đã viên tịch lúc  còn trẻ tuổi. Sư  Quảng Khâm tuy là đệ tử  của Pháp sư  Thuỵ Phương nhưng được sự dạy dỗ của Hoà thượng  Chuyển Trần. Hoà thượng biết căn cơ Người thâm hậu, về sau  ắt sẽ là long tượng của pháp môn, do  vậy mà Hoà thượng khẩn thiết sách tấn và thường xuyên trực tiếp chỉ dạy cho Người .

Một hôm đại chúng đi lao động ngoài triền núi, đến gần trưa sắp trở  về chùa thì nghe tiếng bản gõ báo ngọ trai. Vì chùa đông người thực phẩm cung ứng khó khăn nên thường ngày phải hạn chế trong khẩu phần ăn uống. Bữa ăn lỏng bỏng không đủ  chất dinh dưỡng, chúng lại phải ra sức làm việc trên đồi núi, ai nấy đều đói đến đầu óc choáng váng, cho nên khi nghe báo giờ ăn mọi người chẳng màng thu dọn dụng cụ đua nhau về trai đường. Lúc đó Người cũng muốn mau theo chúng tăng về trai đường nhưng bị Hoà thượng Chuyển Trần gọi lại bảo phải gom hết dụng cụ trả lại chỗ cũ. Lúc đó Người đã rất đói bụng, tay chân bải hoải, hai mắt lờ  đờ&nb