- DUY-MA-CẬT
SỞ THUYẾT KINH
- Trực Chỉ Đề
Cương
CHƯƠNG
THỨ BA
THANH
VĂN
I.-
VẤN ĐỀ THIỀN
Bây giờ Trưởng giả Duy Ma Cật tự nghĩ: nay mình nhuốm bệnh nằm
một mình một giường và một thất, đức Thế Tôn là bậc đại từ rồi
đây thế nào cũng xót thương và sai người đến thăm bệnh. Phật biết
thâm ý của Trưởng giả Duy Ma Cật, bèn gọi Ông Xá Lợi Phất đến và bảo:
1.- Xá Lợi Phất! Thầy hãy đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật. Hiện
nay Ông ấy có bệnh.
Ông Xá Lợi Phất thưa:
Bạch Thế Tôn! Con xin Thế Tôn thương cho! Con không kham lãnh trách
nhiệm đến thăm bệnh Ông ấy.
Bạch Thế Tôn! Vì trước đây có một hôm nọ, con đang ở trong rừng
ngồi thiền dưới một cội cây. Tình cờ Ông Duy Ma Cật đến, nói với
con rằng:
Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Ngài bất tất phải ngồi như thế mới là
ngồi thiền! Luận về việc ngồi thiền, thiền giả không dính mắc tam giới
mà thân tâm vẫn sinh hoạt mới là ngồi thiền. Sinh hoạt trong oai nghi như
bình nhật mà không rời diệt tận định mới là ngồi thiền. Làm mọi việc
như kẻ phàm phu mà không xao lãng đạo pháp mới là ngồi thiền. Tâm
không cột vào trong mà cũng không tản mạn ra ngoài mới là ngồi thiền.
Trước bao nhiêu tà kiến, bao nhiêu dị thuyết, bao nhiêu chuyện mê tín,
hoang đường mà tâm không bị lay động, không bị mê hoặc, cám dỗ, xiêu
lòng, vững tâm trong 37 phần trợ đạo, thế mới là ngồi thiền. Không khởi
tâm đoạn trừ phiền não mà vẫn có Niết bàn, thế mới là ngồi thiền.
Ngồi được như thế thì đó là thứ thiền được Phật ngợi khen
và ấn khả, thưa Ngài Xá Lơi Phất.
Bạch Thế Tôn! Ông Xá Lợi Phất thưa. Sau khi con nghe những lời như
thế, con lặng người ra gần như sảng sốt, chẳng trả lời được với
Ông Duy Ma Cật câu nào. Vì vậy con không dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh.
TRƯïC
CHỈ
1.- Thiền là pháp môn tu phổ biến trong đạo Phật.
Sau Phật Niết Bàn, giáo lý Phật bị phân hóa. Tùy căn cơ nhận thức,
họ chia thành bộ phái. Từ bộ phái tiến tới chỗ lập tông chỉ riêng.
Từ đó có cái từ “Tông phái”.
Lập trường của các Tông phái “Tiểu dị đại đồng”. Nghĩa là
bên mặt hình thức thì mỗi tông phái có khác. Nhưng tất cả đều xử dụng
chất liệu Thiền để phát huy hiệu quả trên đường thăng tiến Bồ Đề
vô thượng.
Tu mà không có Thiền giống như ăn cơm không có muối. Dù có được
ăn, nhưng yếu đuối, èo uột, ngày chết chẳng còn xa.
Người thọ tam qui, ngũ giới
cũng phải học Thiền. Có Thiền mới nhớ Phật, nhớ Pháp, nhớ Tăng. Có
Thiền mới chận đứng những sai trái
mình sắp làm.
Tu Thập thiện nghiệp để hưởng phước báu người, Trời, cũng phải
học Thiền, tham thiền.
- Sơ thiền, tham đề tài “Ly” cấp I.
- Nhị thiền, tham đề tài “ĐỊNH”.
- Tam thiền, tham đề tài “LY” cấp II.
- Tứ thiền, tham đề tài “XÔ...
Đó là quá trình hành thiền của Thiên thừa Phật giáo.
Để được A LA HÁN quả, thiền phải tích cực hơn nhiều. Phải
thường xuyên liên tục để thu nhiếp tâm và làm chủ tự tâm. Vì vậy
Ngài Xá Lợi Phất say sưa trong tỉnh tọa ở mé suối ven rừng. Ngài Duy Ma
Cật có dịp gặp gỡ luận đàm thiền vị.
Ba mươi bảy phần trợ đạo là đề mục thiền của hàng Thinh Văn
tham tọa:
-TỨ NIỆM XỨ:
1.- Quán thân bất tịnh.
2.- Quán tho ïthị khổ.
3.- Quán tâm vô thường.
4.- Quán pháp vô ngã.
-
TỨ CHÁNH CẦN: 1.-
Việc ác chưa sanh cố gắng ngăn chận.
2.- Việc ác đã sanh cố gắng dứt trừ.
3.- Việc thiện đã sanh cố gắng phát triển.
4.- Việc thiện chưa sanh cố gắng phát khởi.
- TỨ NHƯ Ý TÚC: 1.-
Mong muốn điều thiện.
2.- Tinh tấn làm thiện.
3.- Vui làm được việc thiện.
4.- Quyết tâm không rời việc thiện.
- NGŨCĂN:
1.-
Luôn bồi dưỡng đức tin Tam Bảo.
2.- Tinh tấn trên đường đạo
3.- Luôn nhớ Phật, Pháp, Tăng.
4.- Luôn bồi dưỡng định lực.
5.- Luôn bồi dưỡng và nâng cao trí tuệ.
- NGŨLỰC:
1.-
Tín tâm kiên cố.
2.- Tinh tấn kiên cố.
3.- Niệm tưởng kiên cố.
4.- Định tâm kiên cố.
5.- Tuệ giác kiên cố.
- THẤT GIÁC CHI: 1.- Trạch
pháp.
2.- Tinh tấn.
3.- Hỉ.
4.- Khinh an.
5.- Niệm.
6.- Định.
7.- Xã.
- BÁT CHÁNH ĐAïO:
1.- Chánh kiến.
2.- Chánh tư duy.
3.- Chánh ngữ.
4.- Chánh nghiệp.
5.- Chánh mạng.
6.- Chánh tinh tấn.
7.- Chánh niệm.
8.- Chánh định.
Bồ Tát thừa thi hành Thiền và phát huy Thiền theo quá trình tiệm tiến
qua Lục độ:
- LỤC ĐỘ:
1.- Bố thí thiền.
2.- Trì giới thiền.
3.- Nhẫn nhục thiền.
4.- Tinh tấn thiền.
5.- Thiền định thiền.
6.- Trí tuệ thiền.
Năm độ trước thiền phát huy phước đức. Độ thứ sáu thiền
phát huy trí tuệ, để Bồ Tát hoàn thành Phước Huệ song tu và chuẩn bị
bước lên đỉnh cao Bồ Đề vô thượng.
Đến Phật quả gọi là Như Lai thiền.
Huyền Giác thiền sư nói:
“Đốn giác liễu Như Lai thiền
Lục độ vạn hạnh thể trung viên”
Bồ-Tát Duy Ma Cật luận về thiền và giới thiệu cho Ngài Xá Lợi
Phất về Như Lai thiền ấy.
Như Lai thiền không nhất thiết phải “tọa” mới có “thiền”.
Như Lai thiền đi, đứng, nằm, ngồi đều hiệu quả như nhau.
Thiền định có nghĩa “Tư duy tu”. Đối cảnh thì tư duy, có đề
tài thì quán chiếu. Không luận đứng, đi, nằm, ngồi.
Thiền định còn có nghĩa là “Tĩnh lự”. Thiền giả “Tư lự”
một đề tài trong lúc tâm thật yên tĩnh.
Một câu thoại đầu là một đề tài. Một công án là một đề tài.
Thoại đầu công án là đề tài cũ sao chép của người xưa. Có đề tài
lạc hậu không còn tác dụng trong thời hiện đại.
Thiền giả có thể sáng tác đề tài thiền trong mọi chốn nơi, ở
mọi hoàn cảnh và mọi thời gian.
Rút lại, thiền là pháp tu phổ biến trong toàn bộ giáo lý Phật. Học
kinh, luật, luận rồi phải hành thiền mới đem lại kết quả.Các tông:
Thiền tông, Hoa Nghiêm tông, Pháp Hoa tông triển khai thiền thiên nặng về
pháp tánh.
Duy Thức tông, Tam luận tông, Luật tông, Tịnh Độ tông, Chân ngôn
tông triển khai thiền thiên nặng về pháp tướng.
Do vậy, chỗ ở của người tu sĩ Phật giáo được gọi “Thiền môn”.
II.- VẤN ĐỀ THUYẾT PHÁP
Đức Phật gọi Ông Đại Mục Kiền Liên bảo: “Mục Kiền Liên! Thầy
hãy đến thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật”.
Ông Mục Kiền Liên thưa:
“Bạch Thế Tôn! Con không dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh Ông
ấy. Bạch Thế Tôn! Trước đây có lần con đi vào thành Tỳ Da Ly. Trong một
thôn xóm nọ, con vì một nhóm cư sĩ nói pháp cho họ nghe. Bây giờ trưởng
giả Duy Ma Cật đến nói với con rằng:
1.- Thưa Ngài Mục Kiền Liên! Vì hàng bạch y cư sĩ nói pháp Ngài
không nên nói những pháp như vậy. Phàm nói pháp phải nói pháp “NHƯ” của
pháp. Bởi vì pháp không có tướng chúng sanh, xa lìa sự cấu nhiễm về
chúng sanh. Pháp không có tướng thọ mệnh, xa lìa sanh tử ưu bi. Pháp
không có tướng nhơn, vì thời gian trước và thời gian sau không phải là
một. Pháp thường vắng lặng, vì dứt bặt các tướng. Pháp ly tất cả tướng,
vì nó không phải đối tượng sở duyên. Pháp không có tên, không có lời
để gọi, vì ngoài sự nghỉ ngơi nói năng. Pháp không có gì để nói, vì
nó ly các giác quán. Pháp không hình tướng, vì nó như hư không. Pháp
không như trò giởn, vì nó hoàn toàn rỗng lặng. Pháp không phải là ngã sở,
vì nó rời ngoài ngã sở. Pháp không thể phân biệt, vì nó vượt ngoài sự
nhận thức đánh giá. Pháp không có thể so sánh, vì nó không ở trong vòng
đối đải. Pháp không lệ thuộc vào nhơn, vì pháp tồn tại ở duyên.
Pháp hoà đồng pháp tánh, vì nó dung nhập với pháp tánh. Pháp tùy thuận
với pháp “Như”, vì nó không chỗ tùy. Pháp trụ nơi thật tế, vì pháp
bất đồng với bên hữu bên vô, bên đoạn bên thường. Pháp không có
giao động, vì nó không tương can với lục trần. Pháp không có đến đi,
vì pháp vốn là bất trụ. Pháp thuận với không, tùy vô tướng, hợp với
vô tác. Pháp rời tốt xấu. Pháp không tăng nhiều, khônggiãm thiểu. Pháp
không có chỗ qui thú, nó vượt qua nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân tâm. Pháp
không có cao thấp, pháp thường trú bất động. Pháp xa lìa tất cả sự
nghĩ ngợi và thi thố.
Thưa Ngài Mục Kiền Liên! Pháp như thế thì làm sao mà có thể nói
được?
Luận đến chỗ cứu kính của vấn đề thuyết pháp thì người nói
không nói gì hết, không phô bày gì hết. Người nghe không nghe gì hết và
không được có một sở đắc nào. Ví như ảo thuật sư làm ra người ảo,
người ảo lại nói chuyện ảo. Phải xác lập ý thức kiên định như thế
rồi mới nên thuyết pháp.
2.- Còn nữa thưa Ngài Mục Kiền Liên! Người thuyết pháp phải biết
căn tánh của chúng sanh. Trước một hay nhiều đối tượng phải đọc thấy
rõ rằng căn tánh của họ lợi hay độn, phải lấy tâm đại bi mà khen ngợi
đại thừa. Phải nghĩ rằng thuyết pháp là truyền bá, duy trì cho ngôi Tam
Bảo cửu trụ thế gian.
Thuyết pháp nhằm để báo đáp thâm ân Phật. Phải lập chí như vậy,
rồi sau mới thuyết pháp.
Bạch Thế Tôn! Ông Mục Kiền Liên thưa. Sau khi trươüng giả Duy Ma Cật
nói thời pháp đó, có 800 cư sĩ phát tâm vô thượng Bồ Đề.
Bạch Thế Tôn! Con không đươc biện tài như thế, cho nên con không
dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật.
TRỰC
CHỈ
1.- Pháp có pháp tánh và pháp tướng. Pháp liễu nghĩa, pháp bầt
liễu nghĩa, pháp đại thừa, pháp tiểu thừa.
Về pháp tánh, khởi ý nghĩ đã sai. Mở lời nói không đúng. Bồ
Tát Duy Ma Cật gọi thứ pháp tánh đó là pháp NHƯ.
Như có nghĩa là tự nó sao để vậy. Đừng nói càn đừng nghĩ ngợi.
Vì nó ly tất cả. Ly văn tự, ly ngôn thuyết, ly tâm duyên.
Người nói được pháp tánh phải là người thành thạo diễn đạt
nghĩa lý của chữ “BẤT” và “VÔ”.
Đại Mục Kiền Liên là Thanh văn chủng tánh chưa hiểu diệu lý: “...Chư
pháp không tướng, BẤT sanh, BẤT diệt, BẤT cấu, BẤT tịnh, BẤT tăng, BẤT
giãm...”
Chưa hiểu được: “VÔ sắc, VÔ thọ, VÔ tưởng, VÔ hành, VÔ thức...
VÔ nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân, ý...”
Người thể nhập diệu lý đó, khi thuyết pháp thường thuyết pháp
NHƯ.
Bồ Tát Duy Ma Cật muốn Ngài Đại Mục Kiền Liên truyền đạt pháp
Như cho mọi người. Có vậy, người nghe pháp mới được lợi ích lớn.
2.- Theo Bồ Tát Duy Ma Cật, nhìn đối tượng, nhận xét căn cơ là một
chi tiết không thể thiếu của một vị pháp sư.
Phải quán cơ rồi mới nên thuyết pháp. Thuyết đúng đối tượng
pháp đó mới đem lại lợi ích cho người nghe. Người nói thì đền đáp
được thâm ân Phật.
III.- VẤN ĐỀ KHẤT THỰC
Đức Phật gọi Ông Đại Ca Diếp đến và bảo: “Đại Ca Diếp! Thầy hãy đến thăm bệnh trưởng giả
Duy Ma Cật, ông ấy đang có bệnh”.
Ông Ca Diếp thưa: “Bạch Thế Tôn! Con không dám lãnh trách nhiệm
đi thăm bệnh Ông Duy Ma Cật.
Bạch Thế Tôn! Vì con nhớ trước đây, một hôm nọ con đi khất thực
trong một xóm nghèo, Ông Duy Ma Cật gặp và thuyết pháp cho con một thời
pháp dài rằng: “Thưa Ngài Đại Ca Diếp, Ngài có tâm từ mà không phổ
biến, chẳng bình đẳng đối với chúng sanh. Ngài chừa nhà giàu, tìm nhà
nghèo để mà khất thực. Thưa Ngài Đại Ca Diếp! Hãy nên trụ ở pháp
bình đẳng, khất thực theo thứ tự của xóm làng. Không phải vì ăn mà
khất thực thì mới nên đi khất thực. Nhằm hoại diệt cái thân tướng
hòa hiệp này mà nhận lấy thức ăn nắm vắt đấy. Phải xử dụng cái
ý tưởng không thọ nhận, mới thọ nhận thức ăn. Vào làng xóm, phải tưởng
như đến chỗ không người. Thấy sắc mà như đui. Nghe thanh như nghe vang.
Ngửi hương như hít gió. Nếm vị nhưng không phân biệt. Thọ xúc như tri
chứng. Biết tướng của các pháp như huyễn, xưa vốn không sanh cho nên
nay không có diệt.
Còn nữa thưa Ngài Đại Ca Diếp! Có thể không cần rời bỏ bát tà
mà được bát giải thoát. Ngay nơi tà pháp mà thể nhập chánh pháp. Một
chút thức ăn có thể đem bố thí cho tất cả, có thể cúng dường chư Phật
và các hiền thánh, sau đó mới đáng ăn!
Ăn bằng cách như vậy, sẽ không có phiền não cũng không rời phiền
não. Không dụng ý nhập định cũng không dụng ý xã định. Kkông trụ thế
gian cũng không trụ Niết Bàn. Người thí chủ không có phước lớn cũng
không có phước nhõ, không thêm công đức cũng chẳng mất công đức. Đấy
là con đường vào Phật thừa đạo chơn chánh, không chờn vờn khập khểnh
ở cổ xe bé bỏng của Thanh văn.
Thưa Ngài Đại Ca Diếp! Nếu được như thế mà ăn thì mới không
luống uổng thức ăn của người thí chủ cúng dường”.
“Bạch Thế Tôn! Ông Ca Diếp thưa. Lúc con nghe bài pháp ấy rồi,
con được cái chưa từng có. Ngay lúc đó con sanh tâm cung kính chư Bồ Tát
một cách thân thiết chân thành. Vì con nghĩ rằng, ngoài địa vị Bồ Tát,
không ai có thể có trí tuệ biện
tài thâm diệu như thế. Thảo nào người nghe ai mà chẳng phát tâm vô thượng
chánh đẳng chánh giác. Từ đó về sau con không khuyên dạy ai học tu theo
pháp Thanh văn, Bích chi Phật nữa. Vì lẽ đó con không kham lãnh trách nhiệm
đi thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật”.
TRỰC
CHỈ
Khất thực là một hạnh trong mười hai hạnh đầu đà. Sống đời
khất thực có thể phủi dũ được từng phần phiền não, cởi mở được
một ít mối manh ràng buộc.
Giàu
nghèo là chuyện của xã hội, của chúng sanh, ai cóphần nấy.
Nghèo không hẳn khổ. Biết đạo đức, sống tri túc, nghèo cũng có
thể an vui hạnh phúc.
“Thanh bần thường lạc” là chuyện có thật.
Giàu không hẳn vui. Làm giàu bằng bất chánh, bất lương, bất nhân,
bất nghĩa. Bên ngoài giàu, bên trong lo âu sợ sệt, đau khổ triền miên.
“Trọc phú đa ưu” là chuyện có thật.
Quan niệm giàu là người đầy đủ phước
đức, được hưởng nhiều hạnh phúc là
sai.
Quan niệm nghèo là kẻ đáng
thương, cần giúp đở để cho họ được hưởng phần nào hạnh-phúc,
cũng sai.
Người tu sĩ, nhìn bằng tuệ nhãn không đánh giá khổ vui qua hình thức sự nghiệp nghèo, giàu.
BÌNH ĐẲNG là tiêu chuẩn đo đạo đức và quả chứng của người
đạo sĩ.
Từ vô lượng tâm của Phật thể hiện tiêu chuẩn đó.
Phải ban bố lòng từ bình đẳng như ánh sáng mặt
trời chiếu xuống trần gian cho sanh linh vạn vật.
Nhằm tạo
phước đức cho người
nghèo, lòng từ đó có đối tượng, ví như ánh sáng của chiếc đèn “pin”.
Ý niệm năng độ, sở độ, hành vi năng thí, sở thọ còn, thì quả Bồ
đề vô thượng hy vọng còn lâu.
Quan điểm khất thực của Bồ Tát, ăn
là phụ, giáo hóa chúng sanh là chánh.
Tạo phước cho chúng sanh là phụ, dạy
cho chúng sanh thành Phật là chánh. Thuyết pháp cho chúng sanh là phụ, đoạn
trừ vô minh phiền não cho mình là
chánh. Dạy cho chúng sanh thành Phật là phụ, bồi dưỡng trí tuệ Phật
cho mình là chánh.
Pháp liễu nghĩa thượng thừa không chủ trương cúng dường để được
phước đức.
Cũng không chủ trương chú nguyện ban phước đức cho người cúng dường.
Chủ trương người thí, người nhận đều là “Xứng tánh khởi tu”, “Tùy
thuận pháp tánh".
Người
thí và người nhận đều thành Phật. Đến đó mới đạt mục tiêu.
IV.-
LẠI ĐỀ KHẤT THỰC
Đức Phật
gọi Ông Tu Bồ Đề bảo: “Hiện giờ trưởng giả Duy MaCật đang bị bệnh.
Tu Bồ Đề! Thầy hãy đi thăm bệnh Ông ấy”.
1.- Ông Tu Bồ
Đề thưa: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh
Ông Duy Ma Cật. Bởi vì trước đây, có lần đi khất thực con ghé nơi nhà
Ông, lúc bấy giờ Ông lấy bình bát của con sớt đầy một bát cơm và
nói với con rằng:
Thưa Ngài Tu Bồ
Đề: người khất thực ở nơi vật thực có tâm bình đẳng, ở nơi các
pháp cũng có tâm bình đẳng. Ngược lại, ở nơi các pháp có tâm bình đẳng,
ở nơi vật thực cũng có tâm bình đẳng. Khất thực được như thế,
người khất thực mới xứng đáng nhận lấy vật thực của người thí
chủ cúng dường.
2.- Thưa Ngài
Tu Bồ Đề! Không cần đoạn trừ dâm nộ si, mà cũng tùy thuận với dâm
nộ si. Không cần hủy hoại thân nầy mà vẫn tùy thuận tướng nhất (Nhất
chơn pháp giới), không cần diệt si ái mà cũng có giải thoát. Ngay nơi tướng
ngũ đạo mà được giải thoát. Không mở cũng không cột, không học hạnh
Tứ đế, không phải không học hạnh Tứ đế. Không đắc quả, không phải
không đắc quả. Không phải phàm phu, không phải xa rời pháp phàm phu.
Không phải Thánh nhân, không phải không Thánh nhân. Dù thành tựu tất cả
pháp mà rời ngoài cái tướng của tất cả pháp.
Được vậy,
mới nên nhận lấy vật thực của người cúng dường.
3.-Còn nữa,
thưa Ngài Tu Bồ Đề! Không cần tìm gặp Phật. Không cần nghe pháp Phật.
Bọn lục sư ngoại-đạo: Phú Lâu Na Ca Diếp, Mạc Già Lê Câu Xa Lê Tử,
Xan Xà Dạ Tỳ La Chi Tử, A Kỳ Da Xí Xá Khâm Bà La, Ca La Câu Đà Ca Chiên
Diên, Ni Kiền Đà Nhã Đề Tử... Bọn đó phải là thầy của Ngài. Thưa
Ngài Tu Bồ Đề! Ngài hãy y chỉ vào họ mà xuất gia. Họ đọa địa ngục
Ngài cũng đọa theo. Được vậy mới xứng đáng tho ïnhận vật thực của
thí chủ cúng dường.
4.- Còn nữa,
thưa Ngài Tu Bồ Đề! Cứ xông pha trong các thứ tà kiến, không cần tránh
né để đến Niết Bàn. Phải ở ngay trong bát nạn, không được không nạn.
Nhập cuộc với phiền não, xa lìa pháp thanh tịnh đi. Ngài được Tam muội
vô tránh, tất cả chúng sanh cũng được Tam muội đó. Người thí chủ của
Ngài không được gọi là gieo giống phước điền, kẻ cúng dường Ngài
đọa trong ba đường ác. Họ là một cánh tay của bọn ma khuấy rối.
Ngài cùng các bọn ma và các trần lao không hơn kém. Đối với tất cả chúng
sanh phải có tâm oán. Chê báng Phật, hủy mạ pháp, không làm Tăng và
không cần Niết Bàn. Nếu Ngài được như thế thì mới xứng đáng nhận
lấy vật thực cúng dường.
Bạch Thế
Tôn! Ngài Tu Bồ Đề thưa: Khi nghe những điều đó tâm trí con mờ mịt,
không còn biết phải nói lời gì, và không biết phải đối đáp ra sao.
Con bèn để bình bát xuống và muốn mau được đi khỏi nhà Ông Duy Ma Cật.
Như đoán được ý con, Ông Duy Ma Cật nói tiếp:
Thưa Ngài Tu Bồ
Đề! Ngài cứ nhận lấy bát cơm đi, đừngsợ. Ngài nghĩ thế nào? Giả
như đức Như Lai hóa hiện ra một người, đem những điều như thế đàm
luận với Ngài thì Ngài có sợ chăng...?
- Không sợ. Bạch
Thế Tôn! Con đáp như thế.
Ông Duy Ma Cật
lại nói tiếp:
Tất cả các
pháp như huyễn, như hóa, Ngài không nên có ý sợ sệt. Tất cả ngôn thuyết
cũng là huyễn hóa. Bậc trí giả không dính măéc văn tự cho nên không có
gì, vì tánh của văn tự vốn không. Hiểu được rằng văn tự vốn không
có tánh thì người đó được giải thoát. Vì cái tướng giải thoát
chính là tướng các pháp vậy.
Bạch Thế
Tôn! Ông Tu Bồ Đề thưa. Sau khi Trưởng giả Duy Ma Cật nói thời pháp ấy
rồi, có hai trăm vị thiên tử được pháp nhãn thanh tịnh. Do vậy, con
không kham lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh Ông Duy Ma Cật.
TRỰC
CHỈ
1.- Ngài Đại
Ca Diếp khất thực bỏ nhà giàu, tìm nhà nghèo đã sai. Ngài Tu Bồ Đề bỏ
nhà nghèo, tìm khất thực nhà giàu lý lẽ cũng không đúng.
Bỏ giàu tìm
nghèo, biểu lộ tánh chấp trong việc làm. Bỏ nghèo tìm giàu, biết đâu
đó là thứ chứng bệnh phổ biến của chúng sanh.
Dù là tánh chấp
hay là chứng bệnh cũng là cái không nên có của một đạo sĩ.
Phải vận dụng
tâm BÌNH ĐẲNG, thực hiện tứ vô lượng tâm, đi con đường “Trung đạo”
noi dấu chân Phật mà đi.
Giàu nghèo là
chuyện của chúng sanh, người đạo sĩ không tham dự lo cái lo đó.
Người đạo
sĩ có cái lo riêng, kể từ lúc thế phát xuất gia hành đạo.
“...Nội cần
khắc niệm chi công. Ngoại hoằng bất tránh chi đức”.
Đó là mối
lo chánh đáng của một đạo sĩ.
2.- Thâm ngộ
“Thật tướng” là vấn đề then chốt đối với một đạo sĩ.
Không thâm ngộ
“Thật tướng” dù có nói ”tu” thế nầy, “Đọan” thế kia “Trừ”
như thế nọ chỉ là hí luận.
“Bất cầu vọng
tưởng bất cầu chơn”.
Thâm nhập thật
tướng, người đạo sĩ đối diện với tất cả, không né tránh, không trốn
chạy, không dụng công Đoạn, không gắng sức Trừ...
3.- Gặp Phật qua 32 tướng tốt; gặp Phật qua giọng
thuyết pháp hay, chưa hẳn đã gặp được Phật Như Lai.
Gặp Như Lai
Viên giác Diệu tâm mới thật gặp được Phật và mới nghe được pháp
Phật.
Trâu sắt
không sợ tiếng rống của sư tử. Người nộm không có ý bắt chim sẽ.
Thể nhập thật tướng còn ngu si đâu nữa để kỳ thị với bọn ngoại
đạo lục sư.
Ngũ uẩn thân
hợp tan như mây nổi. Tham, sân, si chìm nổi như bọt bèo. Thì ai tạo nghiệp,
ai chịu khổ?
4.- Không đoạn
vọng, chẳng cầu chơn. Vì vọng chơn cả hai đều vọng.
Ở trong nước
đừng nhọc công kiếm nước. Đứng trên non chớ phí sức tìm non.
Ở trong phiền
não mà nhận lấy Bồ Đề. Ở trong sanh tử thọ hưởng Niết Bàn tự tại.
Được như thế,
người đạo sĩ xứng đáng nhận lấy thức ăn. Và mục đích khất thực
mới đạt yêu cầu.
V.-
LẠI VẤN ĐỀ THUYẾT PHÁP
Đức Phật gọi
Ông Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử đến bảo:
“Phú Lâu Na!
Ông hãy đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật”.
Ông Phú Lâu
Na thưa: Bạch Thế Tôn! Con không dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh Ông
ấy.
Bạch Thế
Tôn! Trước đây vào một hôm nọ, con ở trong khu rừng đại lâm, cùng với
một số tân học Tỳ Kheo ngồi dưới bóng mát của một cây cổ thụ.
Lúc con đang thuyết pháp dạy cho số Tỳ Kheo tân học, tình cờ Trưởng giả
Duy MaCật đến, nói với con:
Thưa Ngài Phú
Lâu Na! Trước hết Ngài phải nhập định quán xét tâm tánh của các vị
Tỳ Kheo, rồi sau đó hãy thuyết pháp.
Thưa Ngài Phú
Lâu Na! Ngài không nên đem thức ăn thiu bẩn mà đựng trong chén ngọc đĩa
vàng. Ngài phải biết ý niệm của các vị Tỳ Kheo đang nghĩ tưởng gì,
nhiên hậu sẽ thuyết pháp. Không nên xử dụng một thứ nhìn đồng nhất
rồi cho rằng lưu ly và thủy tinh là một. Ngài chưa biết căn cơ chủng tánh
của chúng sanh thì đừng đem pháp tiểu thừa mà dạy cho họ. Họ vốn
không có ghẻ, đừng làm cho lở loét một con người. Họ muốn đi đại lộ,
đừng chỉ cho họ ngõ hẹp quanh co. Ngài đừng đem nước biển đựng vào
dấu chân trâu. Đừng lấy ánh sáng mặt trời mà đọ với ánh lập lòe của
đom đóm.
Thưa Ngài Phú
Lâu Na! Các vị Tỳ Kheo ấy đã phát tâm đại thừa từ lâu, khoảng giữa
họ quên đi tâm ý đó. Tại sao Ngài lấy pháp tiểu thừa hướng dẫn cho
họ làm chi? Tôi nghĩ rằng thứ trí tuệ của hàng tiểu thừa nhỏ nhen, cạn
cợt chẳng khác người đui. Họ không thể phân biệt được ai độn căn,
ai lợi căn trong số chúng sanh, tâm họ vốn còn trong trắng. Bấy giờ Ông
Duy Ma Cật liền nhập tam muội truyền một lực tĩnh tâm khiến cho các vị
Tỳ Kheo kia tự biết túc mệnh của mình: Rằng họ đã từng trồng sâu gốc
rễ phước ở 500 đức Phật từ thuở xa xưa.
Mọi người tự
xoay về quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Thoạt nhiên họ liền trở
lại tâm đại thừa vốn có. Lúc bấy giờ các vị Tỳ Kheo ấy đảnh lễ
dưới chân Ông Duy Ma Cật.
Sau thời pháp
của Trưởng giả Duy Ma Cật, các vị Tỳ Kheo ấy không còn thoái chuyển
đối với ngôi vị vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Bạch Thế
Tôn! Ông Phú Lâu Na thưa. Qua sự kiện đó con suy nghĩ rằng hàng Thanh văn
không thể quán xét căn tánh của người thì không nên thuyết pháp. Do vậy,
hôm nay con không dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh Ông Duy Ma Cật!
TRỰC
CHỈ
Như ta đã biết.
Pháp có pháp liễu nghĩa và bất liễu nghĩa. Có pháp Đại thừa và Tiểu
thừa. Có pháp cứu cánh và pháp phướng tiện.
Thế nên thuyết
pháp cần phải quán căn cơ, nhìn đối tượng.
Hồi tại thế,
đức Phật thường vận dụng “Tứ tất đàn” mỗi khi thuyết pháp.
Do vậy, pháp
Phật có ngũ thừa.
Ngài Phú Lâu
Na thuyết pháp không phải sai pháp, nhưng sai đối tượng.
Sai đối tượng
người nghe không có kết quả, pháp đúng trở thành sai.
Chiếc áo trăéng
khi đã nhúng chàm, chiếc áo sẽ không còn nhuộm màu đẹp hơn được nữa.
Nhuộm tâm hồn
người ta bằng màu sắc tiểu thừa là làm bẩn một tâm hồn trong trắng.
Cầu thần, khấn
quỉ, van cô, lạy cậu, truyền bá thứ đức tin đó lại càng tệ lậu hơn
nhiều. Người trí gọi đó là mê tín.
Người ta có
khả năng đi đại lộ, không nên chỉ ngõ hẽm quanh co. Chỉ sai đường làm
chận trễ bước tiến của người đi, ơn không ra ơn mà có thể còn là một
cái tội.
Tất cả
chúng sanh đều có Phật tánh thì tất cả chúng sanh đều có chủng tánh
Đại thừa. Được hướng dẫn bằng pháp Đại thừa thì hạt giống Đại
thừa sẽ phát triển.
Tu mà cầu phước
báu là chưa biết giáo lý Phật.
Được quả A
La Hán là phước báu ư? Được Niết Bàn an lạc là phước báu ư? Thành
Phật là phước báu ư? Nói bậy!
Bồ Đề, Niết
Bàn là tự tánh vốn có của mọi người. Ở địa vị Thanh văn nó không
tăng thêm, ở phàm phu nó không giãm bớt.
Nước trong
trăng hiện, mây đen tan trời xanh hiện, phiền não vô minh hết, Phật tánh
hiện.
Tất cả quả
vị “Chứng đắc” không ai ban cho. Bồ Đề, Niết Bàn không do Phật thưởng.
Nói phước báu
là mhằm dẫn dụ những người sơ cơ. Đó là phương tiện ở trong
phương tiện.
VI.- THUYẾT PHÁP YẾU
Đức Phật gọi
Ông Ca Chiên Diên bảo: “Ca Chiên Diên! Thầy hãy đi thăm bệnh Trưởng giả
Duy Ma Cật”.
1.- Ông Ca
Chiên Diên thưa: “Bạch Thế Tôn! Trước kia con đã từng được nghe Phật
nói pháp yếu cho các Tỳ Kkeo. Hôm nọ con cùng các Tỳ Kheo hội họp lại,
con bèn trùng tuyên diễn nói lại về ý nghĩa vô thường, khổ ,không, vô
ngã và tịch diệt...Lúc bấy giờ Trưởng giả Duy Ma Cật đến, nói với
con rằng:
2.- Thưa Ngài
Ca Chiên Diên! Ngài không nên dùng tâm hành sanh diệt mà nói pháp thật tướng.
Thưa Ngài, các pháp không sanh không diệt, đó là nghĩa vô thường. Ngũ ấm
rỗng không, không có điểm sanh khởi, đó là nghĩa khổ. Các pháp rốt
ráo không, không có nguồn gốc, đó là nghĩa không. Ngã và vô ngã không
hai, đó mới là nghĩa vô ngã. Các pháp xưa không sanh, nay không diệt, đó
là nghĩa tịch diệt.
Sau khi Ông Duy
Ma Cật diễn nói về những pháp yếu đó, các Tỳ Kheo tâm được cởi mở.
Vì vậy hôm nay con không dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh Trưởng giả
Duy Ma Cật”.
TRỰC
CHỈ
Học Phật phải
tập nhìn vạn pháp qua hai mặt. Thuyết pháp cũng vậy.
Pháp có pháp
tánh và pháp tướng. Chưa ngộ nhập “thật tướng”, chỉ nói được pháp
tướng. Thể nhập thật tướng mới được pháp tánh.
Thấy cái ta
thật có, cho nên thấy cái ta vô ngã.
Muốn ngã và
ngã sở trường cửu nên thấy vạn pháp giai không.
Thấy phiền
não là thật, cho nên thấy tịch diệt Niết Bàn.
Vô thường,
khổ, không, vô ngã, tịch diệt, ÔÂng Ca Chiên Diên càng diễn giải tỉ mỉ
chi ly, càng chứng tỏ tâm Ông bị dính mắc càng nhiều.
Thật tướng
vạn pháp là CHƠN THƯỜNG. Vì các pháp sanh không thật sanh. Các pháp diệt
không thật diệt. Sanh diệt là hiện tượng tùy duyên, nhìn bên mặt pháp
tướng. Không sanh không diệt là thật tướng các pháp nhìn bên mặt pháp
tánh.
Vì thật tướng
“VÔ” tướng.
Vì thấy vạn
pháp sanh diệt VÔ THƯỜNG cho nên KHỔ.
Vì thấy VÔ
THƯỜNG, KHỔ cho nên thấy vạn pháp KHÔNG.
Vì thấy VÔ
THƯỜNG, KHỔ, KHÔNG, cho nên thấy vạn pháp VÔ NGÃ.
Vì thấy VÔ
THƯỜNG, KHỔ, KHÔNG, VÔ NGÃ, cho nên thấy TỊCH DIỆT NIẾT BÀN cầu mong
chứng đắc.
Nhìn qua cái
nhìn pháp nhãn của Thanh văn là thế.
Nhận biết thật
tướng vạn pháp không sanh diệt, cho nên biết vạn pháp THƯỜNG.
Vì biết vạn
pháp THƯỜNG, cho nên có CHƠN LẠC.
Vì biết vạn
pháp CHƠN THƯỜNG, CHƠN LẠC, cho nên có CHƠN NGÃ.
Vì biết vạn
pháp CHƠN THƯỜNG, CHƠN LẠC, CHƠN NGÃ, cho nên có CHƠN TỊNH.
Với tuệ
nhãn của Bồ Tát thì vạn pháp CHƠN THƯỜNG, CHƠN LẠC, CHƠN NGÃ, CHƠN TỊNH.
Nhìn vạn
pháp CHƠN THƯỜNG, CHƠN LẠC, CHƠN NGÃ, CHƠN TỊNH thì NIẾT BÀN TỊCH DIỆT
còn dùng vào đâu mà cầu mong “chứng” vớùi “đắc”.
Nhằm xiển dương
“thật tướng vô tướng” của các pháp, Bồ Tát Duy Ma Cật tung đòn “đối
trị tất đàn” để khủng bố tư tưởng tiểu thừa của Ông Ca Chiên
Diên:
“Các pháp
không sanh không diệt là VÔ THƯỜNG”.
“Ngũ uẩn
giai không là KHỔ”
“Ngã và vô
ngã không hai là VÔ NGÔ.
“Các pháp xưa
không sanh nay không diệt là TỊCH DIỆT”.
VII.-
VẤN ĐỀ THIÊN NHÃN
Đức Phật gọi
Ông A Na Luật bảo: “A Na Luật! Thầy hãy đi thăm bệnh Trưởng giả Duy
Ma Cật”.
Ông A Na Luật
thưa: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh trách
nhiệm đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật. Bởi vì con nhớ một
hôm nọ, con đang kinh hành, bấy giờ có vị Phạm Vương tên là Nghiêm Tịnh
và hàng ngàn PhạmVương khác phóng hào quang đến chỗ con, dập đầu làm
lễ và hỏi con rằng:
- Thưa Ngài A
Na Luật! Thiên nhãn Ngài chứng được có thể quan sát thấy được bao xa?
Bạch Thế
Tôn! Con trả lời với Phạm Thiên Vương rằng: “Thiên nhãn của tôi
trông thấy cõi Tam thiên Đại thiên thế giới của đức Phật Thích Ca như
xem trái quít để trên bàn tay”.
Bạch Thế
Tôn! Lúc bấy giờ Trưởng giả Duy Ma Cật đến hỏi con:
Thưa Ngài A Na
Luật! Thiên nhãn của Ngài khi thấy có khởi tướng tác ý hay không có
tác ý? Giả sử có khởi tướng tác ý thì giống như cái thấy của bọn
người ngoại đạo được ngũ thông. Còn như không khởûi tướng tác ý
là vô vi, lẽ ra không có thấy.
Bạch Thế
Tôn! Lúc đó con chẳng biết nói gì, đành im lặng. Các Phạm Thiên thì
được sự khinh an chưa từng có. Họ bèn làm lễ Ông Duy Ma Cật và hỏi:
- Thưa Trưởng
giả! Trên đời nầy có ai là người được chơn thiên nhãn?
Ông Duy Ma Cật
đáp: Chỉ có Phật Thế Tôn là người được chơn thiên nhãn, thường ở
trong chánh định và thấy tất cả cõi nước chư Phật không có tướng
hai.
Bấy giờ
Nghiêm Tịnh Phạm Vương và năm trăm Phạm Thiên Vương quyến thuộc đều
phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tất cả lễ lạy dưới chân
Ông Duy Ma Cật và thoạt nhiên biến mất.
Vì duyên cớ
đó, con không dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật.
TRỰC CHỈ
“Nhục
nhãn ngại phi thông
Thiên nhãn thông phi ngại
Pháp nhãn quan nhất thể
Tuệ nhãn liễu tri không
Phật nhãn thể dụng đồng”.
Thiên nhãn của
Ngài A Na Luật do tu chứng.
Thiên nhãn của
các Phạm Vương do quả báo.
Thiên nhãn của
Chư Thiên do “báo đắc”, xử dụng tự nhiên, không cần tác tướng.
Thiên nhãn của
Ngài A Na Luật do “chứng đắc”, khi xử dụng có tác tướng.
Tác tướng tức
là khởi ý dụng công.
Dù báo đắc
hay chứng đắc, thiên nhãn vẫn là thiên nhãn.
Biết rộng
là tối cần, thấy xa chưa quan trọng
Thấy để mà
thấy. Dù thấy gần thấy xa cũng vậy thôi.
Thấy và biết
toàn diện, thấy biết tận nguồn gốc vạn pháp, đó là CHƠN THIÊN NHÃN.
Với CHƠN THIÊN
NHÃN nhìn pháp giới “bất nhị” không có tướng hai.
“Cần phải
tu học, nhìn pháp giới không có tướng hai” ấy.
Đem thiên
nhãn “chứng đắc” so sánh với thiên nhãn “báo đắc” rốt cuộc chỉ
là hý luận.
Mừng rằng
mình được thiên nhãn! Hãy coi chừng! Ngày trở thành ngoại đạo tà kiến
không xa.
VIII.-
GIẢNG LUẬT
Đức Phật
gọi Ông Ưu Ba Ly bảo: “Ưu Ba Ly! Thầy hãy đi thăm bệnh Trưởng giả Duy
Ma Cật”.
Ông Ưu Ba Ly
thưa: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh Ông
Duy Ma Cật.
Bạch Thế
Tôn! Còn nhớ một lần nọ có hai vị Tỳ Kheo lỡ phạm luật hạnh, họ lấy
làm xấu hổ không dám đem việc ấy ra thưa với Phật mà đến hỏi con rằng:
Thưa Ngài Ưu
Ba Ly! Hai chúng tôi đã lỡ phạm luật hạnh, chúng tôi lấy làm xấu hổ,
không dám đến thưa với Phật. Vậy xin Ngài hãy chỉ giáo cho chúng tôi phải
làm gì để xóa hết được cái lỗi ấy.
Bạch Thế
Tôn! Ông Ưu Ba Ly thưa. Con liền như Luật mà giải đáp rằng: Tứ khí thì
tẩn xuất. Tội tăng tàn thì bất cộng trú...
Bấy giờ Ông
Duy Ma Cật đến bảo con rằng: Thưa Ngài Ưu Ba Ly! Ngài đừng làm tăng tội
cho hai vị Tỳ Kheo kia. Hãy dừng ngay cách phán xử luật nghi của Ngài đi!
Thưa Ngài Ưu Ba Ly! Tánh của tội không ở trong, không ở ngoài, không ở
chặng giữa. Đức Phật đã từng dạy: Tâm cấu cho nên chúng sanh cấu.
Tâm tịnh thì chúng sanh tịnh. Tâm cũng không ở trong, không ở ngoài,
không ở chặng giữa. Tâm vốn đã NHƯ, tội cấu cũng NHƯ và các pháp cũng
NHƯ. Tất cả không vượt ngoài tánh NHƯ. Cũng như Ngài trong khi Ngài xử dụng
cái tướng của tâm giải thoát, vậy lúc đó tâm Ngài còn có cấu không?
- Không. Bạch
Thế Tôn! Con đáp như thế.
Ông Duy Ma Cật
giảng tiếp: “Tâm của tất cả chúng sanh cũng giống như vậy, vốn không
có tướng cấu. Vọng tưởng là cấu, không vọng tưởng là tịnh. Điên
đảo là cấu, không điên đảo là tịnh. Chấp ngã là cấu, không chấp
ngã là tịnh.
Thưa Ngài Ưu
Ba Ly! Tất cả pháp sanh diệt cũng dừng, như huyễn hóa, như điện chớp
không có chờ nhau, cho đến trong một niệm cũng không có trụ. Các pháp đều
do vọng thấy như chiêm bao, như ngấn nước giữa cơn nắng gắt, như
trăng đáy nước, như bóng trong gương. Tất cả đều do vọng tưởng sanh
ra. Người nào biết kỹ những việc đó mới là người trì luật chơn chánh.
Người nào hiểu rõ những điều đó mới là người luận giải luật đúng
ý Phật.
Bạch Thế
Tôn! Ông Ưu Ba Ly thưa. Sau giây phút lãnh hội pháp ngữ hùng hồn siêu việt
của Ông Duy Ma Cật, hai vị Tỳ Kheo bèn tán thán: Ôi! thượng trí thay!
Ngài Ưu Ba Ly không bằng được.
Đấy mới là
người trì luật tối thượng. Đấy mới là người luận giải luật đệ
nhất. Tuyệt diệu thay! Không còn ngôn từ tán thán cho vừa.
Bạch Thế
Tôn! Ông Ưu Ba Ly thưa. Lúc đó con cũng cảm kích và xúc động. Con nghĩ rằng:
Ngoài đức Như Lai ra, chưa có một vị Thanh Văn, Bồ Tát nào có biện tài
lạc thuyết vô ngại của một bậc trí tuệ thông đạt tuyệt luân như vậy.
Bạch Thế
Tôn! Khi bấy giờ hai vị Tỳ Kheo kia dứt trừ mọi hoang mang sợ sệt và
dõng mãnh phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vì duyên cớ đó,
con không dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh Ông Duy Ma Cật.
TRỰC
CHỈ
Tội lỗi không có tánh cố định. Cũng như
phiền não vô minh không có tánh cố định.
Lỡ làm sai,
biết là sai thì tội đã tự giãm khinh. Biết tội sanh tâm hổ thẹn, tội
đó phải được xem như hết.
“Tội tánh bổn
không”.
Tội không ở
trong, không ở ngoài, không ở chặng giữa. Tâm tạo tội cũng không ở
trong, không ở ngoài, không ở chặng giữa.
“Tội tòng
tâm khởi tòng tâm diệt”.
Tâm cũng NHƯ.
Tội cũng NHƯ. Vạn pháp cũng NHƯ. Giải thoát cũng NHƯ.
Tìm tâm trong
ba thời, không có: Tâm NHƯ.
Tìm tội trong
ba thời, không có: Tội NHƯ.
Tìm pháp trong
ba thời, không trụ: Pháp NHƯ.
Tìm tướng giải
thoát trong ba thời, không có: Giải thoát NHƯ.
NHƯ tức là
NHƯ NHƯ, cũng tức CHƠN NHƯ. Muốn đánh đổ phá hoại, không phá hoại
được. Muốn xây dựng bồi bổ, không bồi bổ được. NHƯ là tánh viên
mãn tự nhiên, tánh ly ngôn thuyết.
Tất cả pháp
sanh diệt không dừng, như huyễn như hóa. Tội cấu cũng như vậy.
Không linh hoạt
trong nguyên tắc: KHAI, TRÌ, GIÁ, PHẠM vô tình tăng tội cho người thêm nặng.
IX.-
VẤN ĐỀ XUẤT GIA
Bấy giờ
đức Thế Tôn gọi La hầu La bảo: “La Hầu La! Thầy nên đi thăm bệnh
Trưởng giả Duy Ma Cật”.
Ông La Hầu La
thưa: “BạchThế Tôn! Con không kham lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh trưởng
giả! Bởi vì trước đây có lần các trưởng giả tử trong thành Tỳ Da
Ly đến chỗ con, cúi đầu làm lễ và hỏi con rằng:
- Thưa Ngài La
Hầu La! Ngài là con của Phật, Ngài bỏ địa vị chuyển luân thánh vương
đi xuất gia hành đạo. Vậy xin hỏi việc hỏi, việc xuất gia đó có được
lợi ích gì?
Bạch Thế
Tôn! Con vì các trưởng giả tử, nói rõ những cái lợi và công đức của
việc xuất gia. Bấy giờ Ông Duy Ma Cật đến nói với con rằng:
1.- Thưa Ngài
La Hầu La! Ngài không nên nói về cái lợi và cũng không nên nói về công
đức của việc xuất gia. Vì sao? Bởi vì không có lợi, không có công đức
mới xuất gia. Bởi vì xuất gia thuộc về pháp vô vi. Pháp vô vi không có
lợi và có công đức.
Thưa Ngài La Hầu
La! Luận về xuất gia là không kia, không đây. Không có cái giữa. Rời
sáu mươi hai thứ kiến chấp mà ở chỗ Niết Bàn. Là việc của người
trí cảm nhận, bậc thánh thường hành. Hàng phục các ma. Cứu độ ngũ đạo.Thanh
tịnh ngũ nhãn. Thành tựu ngũ lực. Làm chủ ngũ căn. Không não hại người.
Xa lìa xấu ác. Dẹp các ngoại đạo. Vượt khỏi các giã danh. Ra khỏi
bùn lầy phiền não. Không có người buộc. Không có ngã sở hữu. Không
có cái sở thọ. Lòng không khát vọng. Giữ ý an vui. Thuận theo thiền định.
Xa rời các lỗi lầm. Nếu được như thế, chính là chơn xuất gia.
Tiếp theo Ông
Duy Ma Cật nói với các trưởng giả tử:
2.- “Các vị
hãy ở trong chánh pháp và nên xuất gia trong chánh pháp. Bởi vì người
sanh ra trong đời gặp được Phật rất là khó”.
Các trưởng
giả tử nói:
- Thưa cư sĩ!
Chúng tôi nghe Phật nói rằng, nếu cha mẹ không cho thì không được xuất
gia.
- Đúng vậy!
Ông Duy Ma Cật đáp: Nhưng các trưởng giả tử đừng lo! Khi nào các vị
phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác thì chính lúc đó được xem
như xuất gia rồi và đã thọ giới cụ túc rồi!
Khi bấy giờ
có 32 vị trưởng giả phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Bạch Thế
Tôn! Vì duyên cớ ấy, con không dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh!”.
TRỰC
CHỈ
Xuất
gia mục đích không phải vì lợi, cũng không phải vì công đức.
Lợi và công
đức, chỉ để nói với người có trí bậc hạ và bậc trung. Bậc thượng
trí vừa nghe, đã biết sai từ căn bản.
1.- Xuất gia
là ra khỏi nhà tam giới, nhà phiền não, tham, sân, si, mạn. Mục-đích tối
hậu là đến bảo sở Bồ Đề, Niết Bàn vô thượng.
Xuất gia là
pháp vô vi. Không được nói lợi, không được đề cập công đức.
Xuất gia là
việc của người trí cảm nhận, của bậc Thánh thường hành.
2.- Xuất gia
là quí. Phải xuất gia theo chánh pháp, sống đúng chánh pháp. Đó là:
“Thân xuất
gia, tâm xuất gia”.
Xuấtgia đúng
chánh pháp, sống không đúng chánh pháp. Đó là:
“Thân xuất
gia, tâm không xuất gia”.
Các trưởng
giả tử chưa có điều kiện xuất gia hãy phát tâm cầu vô thượng Bồ Đề.
Kể từ phút
phát tâm, xem như xuất gia rồi, thọ cụ túc giới rồi. Đó là:
“Tâm xuất
gia, thân không xuất gia”.
X.-
NHƯ LAI BỆNH
Đức Phật
gọi Ông A Nan và bảo: “A Nan! Thầy hãy đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma
Cật!”.
1.- Ông A Nan
thưa: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh trưởng
giả. Bởi vì trước đây, có lần Như Lai trong người hơi có chút bệnh,
phải cần dùng sữa. Con mang bình bát đến đứng trước nhà của một đại
Bà LaMôn để xin. Bấy giờ, Trưởng giả Duy Ma Cật đến nói với con rằng:
- Thưa Ngài
ANan! Ngài làm gì mang bình bát đến đứng ở đây sớm thế?
Con đáp rằng:
- Như Lai trong
người hơi có bệnh, cần phải dùng sữa, tôi đến đây hóa duyên xin sữa
cho Như Lai.
Ông Duy Ma Cật
nói:
- Thôi! Thôi!
A Nan! Ngài đừng nói như vậy. Thân Như Lai là thân Kim Cang, các xấu ác đã
hết, chứa nhóm tất cả công đức thiện, nào có bệnh tật, não hại
gì?
Hãy im! và đi
đi! Ngài nói như vậy là phỉ báng Như Lai đó. Đừng để cho người ngoài
họ nghe được những lời bất kính đó! Đừng để cho các hàng chư Thiên đại oai đức và các Bồ Tát ở
các cõi Tịnh độ khác nghe được những lời ấy!
2.- Thưa Ngài
A Nan! Chuyển Luân Thánh Vương chỉ có phước đức chút ít mà còn không bệnh,
huống chi Như Lai là thân Kim Cang hội tụ vô lượng phước đức!
Hãy đi đi, Ngài A Nan! Đừng để chúng
tôi phải chịu sự xấu hổ đó! Hàng ngoại đạo Phạm Chí họ nghe được
những điều đó, họ sẽ nghĩ gì về một bậc thầy của chúng ta!
Bản thân một
vị thầy có bệnh mà không thể tự cứu thì làm sao cứu bệnh cho ai?
Ngài hãy âm thầm đi nhanh đi. Đừng để lộ ra cho người ngoài nghe biết!
A Nan! Ngài
nên biết rằng: Thân của Như Lai là pháp thân, không phải thân do tư dục.
Phật là bậc Thế Tôn vượt ngoài tam giới. Thân Phật vô lậu, vì các lậu
đã hết. Thân Phật vô vi, không đối đải với các số. Thân như thế thì
còn có bệnh gì?
- Bạch Thế
Tôn! Ông A Nan thưa. Lúc đó con rất là xấu hổ. Nghĩ rằng con được hầu
bên Phật há lại nghe lầm ư? Liền đùó, con tư ïnghe có tiếng trong
không trung vọng đến: A Nan! Lời cư sĩ như thế là đúng, nhưng vì Phật
xuất hiện trong đời ngũ trược ác thế thị hiện ra việc làm như vậy
nhằm hoá độ chúng sanh. A Nan! Ông hãy đi xin sữa, đừng có hổ thẹn!
Bạch Thế
Tôn! Ông A Nan thưa. Ông Duy Ma Cật có sức trí tuệ biện tài vô ngại như
thế, con không dám lãnh trách nhiệm đến thăm bệnh.
Ngoài mười vị
đại đệ tử Thanh Văn này, còn có năm trăm vị nữa ở trước Phật đến
trình bày duyên cớ đã từng gặp Ông Duy Ma Cật trước kia.
Tất cả đồng
xưng tán Trưởng giả Duy Ma Cật và đồng thưa lên Phật, rằng không dám
đi thăm bệnh.
TRỰC
CHỈ
1.- Người
Thanh Văn xử dụng “pháp nhãn” nhìn vạn pháp chỉ thấy được pháp tướng.
Bồ Tát nhìn
vạn pháp bằng “tuệ nhãn”, biết suốt căn nguyên, thấy tột pháp
tánh.
Nhìn pháp chỉ
thấy “pháp tướng” thì nhìn Phật chỉ thấy “Phật tướng”.
Thấy “Phật
tướng” thì rõ ràng Phật có bệnh, Ông A Nan đi xin sữa là phải.
Nếu chỉ biết
có “Phật tướng”, tu sĩ dễ lạc “tà đạo” không biết được Như
Lai Phật.
2.- Phải thâm
nhập ngộ pháp tánh, mới nhận thức rõ pháp thân.
Pháp thân Phật
là “bản thể ”của ứng thân Phật.
Ứng thân Phật
là “tướng dụng” của pháp thân.
Pháp thân biến
nhất thiết xứ. Là thể bất sanh, bất diệt, vô thỉ, vô chung.
Nhìn bằng tuệ
nhãn sẽ thấy pháp thân Phật không hề có bệnh.
Phải hiểu Phật
qua pháp thân mới thật hiểu Phật.
Ứng hóa thân
chỉ là công cụ phương tiện của Như Lai.
Nói là: “tiếng
vọng trong không trung” người trí phải hiểu đó là “tiếng lòng” phản
tỉnh của Ông A Nan qua những giây phút tiếp thu hơi ấm lửa Đại thừa.
Người khơi d