- Ðức Phật Lịch Sử
(The Historical Buddha)
- H.W. Schumann (1982)
M. O'C. Walshe dịch sang Anh ngữ (1989)
Nguyên Tâm Trần Phương Lan dịch Việt (1997)
Chương VII: 485
trước CN
Cuộc hồi hương vĩ đại
-oOo-
NHỮNG HÀNH TRÌNH CUỐI CÙNG
Theo thông lệ trong hơn hai mươi
năm qua, đức Phật an cư mùa mưa năm 485 trước CN tại Sàvatthi. Ngài
không xem cơn cuồng nộ của Ðại Vương Vidùdabha tàn phá bộ tộc Sakiya vừa
qua có liên hệ đến ngài.
Trong lúc trú tại tinh xá Kỳ viên
của ông Cấp Cô Ðộc, bậc Ðạo Sư hay tin rằng đại đệ tử Sàriputta
của ngài đã mệnh chung vì bệnh ở làng Nàlagàmaka, không xa Ràjagaha.
Chính Sa-di Cunda (ka), bào đệ của tôn giả Sàriputta đem tin đến cùng các
di vật của vị Tỳ-kheo quá cố: bình bát, ngoại y và xá lợi của tôn giả
được buộc lại trong tấm vải dùng làm khăn lọc nước (SN 47. 3. 2. 3).
Khi mùa mưa đã chấm dứt, đức Phật
lại bắt đầu du hành, lần này về hướng nam. Khi ngài dừng tại làng
Ukhàcelà (hay Ukhàvelà) trên sông Hằng, hình như hung tin tôn giả
Moggallàna, đại đệ tử thứ hai của ngài, mệnh chung đến tai ngài. Xúc
động, ngài tuyên bố với chư Tỳ-kheo rằng "Giáo hội nay đã thiếu
vắng hai vị ấy. Giống như một cây hùng vĩ đầy sức sống có các
nhành lớn bị hư hoại, cũng vậy là Sàriputta và Moggallàna từ Giáo hội
đã mệnh chung. Nhưng làm sao có vật gì đã sanh khởi lại không đoạn diệt?"
(SN 47. 3. 2. 4).
Chuyện Tiền Thân số 522 (Jàt
522) nêu chi tiết về sự từ trần của tôn giả Moggallàna. Theo chuyện
này, vị đại đệ tử ấy bị sát hại gần Ràjagaha, ở vùng Hắc Thạch
trên đỉnh Isigili (Thánh Sơn nay là Núi Udaya?) vì tôn giả này đã lôi cuốn
được quá nhiều môn đồ từ các giáo phái Sa-môn khác nên họ đã thuê
một tên cướp giết ngài. Ngày tôn giả Sàriputta mệnh chung được ghi nhớ
là ngày rằm tháng Kattikà (tháng Mười - Mười một), còn ngày tịch diệt
của tôn giả Moggallàna vào thượng tuần tháng kế tiếp (Jàt 95). Theo đây,
cả hai vị đại đệ tử đều tịch diệt năm 486 trước CN.
Những tháng cuối mùa mưa năm 485 còn
thấy đức Phật cao niên ở Ràjagaha, tại đấy vị đại thần Vassakàra
tìm cơ hội tham vấn ngài về dân Vajjì. Chẳng bao lâu sau, ngài rời đi lên
miền bắc, được thị giả Ànanda và hội chúng Tỳ-kheo hộ tống. Câu
chuyện trong Dìgha Nikàya (Trường Bộ Kinh số 16. 1) kể rằng
ngài gặp tôn giả Sàriputta gần Nàlandà chắc hẳn đã được đưa vào văn
cảnh này do nhầm lẫn, bởi vì đúng thời điểm ấy, tôn giả Sàriputta
đã tịch diệt một năm tròn.
Trạm dừng chân kế tiếp là
Pàtaligàma, nơi bậc Ðạo Sư quan sát tiến trình xây dựng thủ đô mới của
Magadha và thành lũy Pàtaliputta. Trong số các chuyện khác xảy ra, có chuyện
ngài làm thượng khách của các đại thần Sunìdha và Vassakàra, những người
đang giám sát công tác xây dựng. Họ đặt tên chiếc cổng ngài đi qua khi
rời thành là "Cổng Gotama" để tôn vinh ngài. Sông Hằng ở vùng
Patna này có thể rộng đến 2,5 km và đang mùa lũ lụt, song đức Phật qua
sông chẳng khó khăn gì cả (DN 161. 19).
Năm 484 đã bắt đầu từ lâu thì
chư Tỳ-kheo khoác y vàng này đến Vesàli (nay là Vaishàli), sau khi Tăng chúng
đã đi qua làng Kotigàma và Nàdika. Thành Vesàli là thủ đô của cộng hòa
Licchavi, tại đây chư vị cư trú trong vườn xoài của Ambapàli (Cô Gái Vườn
Xoài), người kỹ nữ sang trọng của kinh thành đã quá xuân nhưng vẫn còn
diễm lệ. Trước kia Ambapàli đã có một con trai với cố Ðại Vương
Bimbisàra, đặt tên là Vimalakondañña, vị này sau trở thành Tỳ-kheo. Ngay
khi bà nghe tin bậc Ðạo Sư của con trai bà đang dựng lều trong vườn xoài
của bà, bà liền vội vã đến nơi thỉnh cầu ngài thọ thực ngày hôm
sau. Ðức Phật nhận lời bằng cách im lặng.
Các thị dân khác của thành Vesàli
cũng muốn thiết đãi bậc Ðạo Sư và vô cùng thất vọng khi nghe tin
Ambapàli đã ngầm đi nước cao hơn họ. Người kỹ nữ từ chối lời họ
đề nghị tặng bà nhiều tiền để nhường cho họ bữa tiệc đãi vị
khách danh dự ấy. Sáng hôm sau, bà cúng dường đức Phật và Tăng chúng một
bữa cơm thịnh soạn, rồi sau đó lại cung tặng vườn xoài của bà
(Ambapàlivana) để bậc Ðạo Sư và Giáo hội làm tinh xá (DN 16. 2. 11) - chắc
chắn một phần là với hy vọng con trai bà có dịp an cư mùa mưa tại đó.
Trong thời xuân sắc, bà đã đề ra giá 50 kahàpanas, giá tiền năm con bò sữa,
để được một đêm ân ái với bà, vì thế bà có thừa khả năng cung cấp
những tặng vật đắt giá. Ngay sau đó, bà gia nhập hội chúng Tỳ-kheo-ni
và còn được xem là đã đắc thánh quả A-la-hán (Thìg 252 -70).
Bậc Ðạo Sư đã du hành đến tận
Vesàli với hội chúng Tỳ-kheo, nhưng mùa mưa năm đó, 484 trước CN, ngài
muốn độc cư và chỉ có Ànanda, thị giả trung thành theo hầu, để ngài
chuyên tâm thiền định. Từ đây khi mưa bắt đầu rơi, ngài yêu cầu chư
Tăng tự tìm các tinh xá (Vihàra) cho mình ở vùng ngoại ô thành Vesàli,
trong khi chính ngài sẽ an cư mùa mưa tại Beluva (nay là Basarh), một vùng
ngoại ô ở miền nam kinh thành (DN 16. 2. 22).
Ðó là một thời kỳ bất an. Bậc
Ðạo Sư già cả lâm trọng bệnh và chịu nhiều đau đớn. Tuy nhiên, ngài
vẫn duy trì tâm trí minh mẫn và nhiếp phục cơn bệnh bằng sức mạnh của
ý chí. Khi ngài có thể đứng dậy và ngồi dưới bóng mát của am thất,
tôn giả Ànanda bày tỏ nỗi lo buồn của mình về cơn trọng bệnh vừa
qua ấy. Tôn giả nói thực là một niềm an ủi cho tôn giả khi nghĩ rằng
đức Như Lai sẽ không nhập Niết-bàn vô dư y trước khi chuẩn bị hành
trang cho Tăng chúng. Tuy nhiên, đức Phật lại không muốn làm gì về việc
này cả:
"Này Ànanda, tại sao chúng Tỳ-kheo
lại chờ đợi điều này ở ta? Ta đã thuyết giảng Chánh Pháp mà không hề
phân biệt "mật giáo" hay "hiển giáo" vì Như Lai không có
"bàn tay nắm chặt của vị Ðạo Sư" còn giữ lại đôi phần
chân lý nào đó. Nếu có ai suy nghĩ: "Ta sẽ lãnh đạo Giáo hội"
hoặc: "Giáo hội phải chịu sự hướng dẫn của ta", thì chính người
ấy phải để huấn thị mọi vấn đề liên hệ Giáo hội. Phần Như Lai
không nghĩ theo cách ấy. Thế thì tại sao Như Lai (tức là ta) lại phải để
di huấn cho Tăng đoàn? Nay ta đã già cả, đã suy yếu, đã đến hạn kỳ
cuối cuộc đời, ta vừa tròn tám mươi tuổi. Này Ànanda, giống như cỗ
xe cũ kỹ được làm cho chạy nhờ đám dây da chằng chịt nâng đỡ, cũng
vậy, thân Như lai được duy trì hoạt động nhờ nâng đỡ bằng dây đai
...
Vì vậy, này Ànanda, phải tự làm
hòn đảo cho chính mình, hãy tự làm nơi an trú cho chính mình, không
tìm nơi an trú nào khác, lấy Chánh Pháp làm hòn đảo, lấy Chánh Pháp làm
nơi an trú, không tìm nơi an trú nào khác ...
Này Ànanda, những Tỳ-kheo nào hiện
nay hay ngày sau tự mình làm hòn đảo cho chính mình, lấy Chánh Pháp làm nơi
an trú, chứ không tìm nơi an trú nào khác, những vị nhiệt tâm tu tập như
vậy là các Tỳ-kheo chân chánh của ta và sẽ nhiếp phục bóng tối của
vô minh, của luân hồi sanh tử". (DN 16. 2. 25, giản lược)
Như vậy, đức Phật chỉ định,
không phải một Ðạo Sư, mà là Ðạo Pháp (Dhamma) làm vị lãnh đạo
tương lai của Giáo hội. Vài ngày sau khi nói các lời này với tôn giả
Ànanda, ngài đã bình phục đủ sức để đi khất thực trong thành Vesàli
(DN 16.3.1).
Giống như mọi người mới trở lại
với đời sống sau một cơn bệnh hiểm nghèo, đức Phật già cả nhìn ngoại
cảnh với đôi mắt tươi sáng. Trong chuyến du hành đến đền thờ Càpàla,
ngài nói về vẻ đẹp khả ái của thành Vesàli cùng các đền thờ chung
quanh bằng những ngôn từ hầu như rạt rào tình cảm (DN 16. 3. 2) và ít
lâu sau đó, khi ngài rời Vesàli với tiên liệu là ngài sẽ chẳng bao giờ
trông thấy kinh thành này nữa, ngài đã quay lại nhìn nó từ xa với vẻ
trầm tư (DN 16. 4. 1).
Cuộc hành trình tiếp diễn chầm
chậm qua các thôn làng Bhandagàma, Hatthigàma, Ambagàma, Jambugàma, rồi
Bhoganagara, và luôn tiến mãi về hướng tây bắc. Rõ ràng ngài muốn đợi
giờ phút mệnh chung mà ngài cảm thấy đang đến gần, tại một trong các
tinh xá ở kinh thành Sàvatthi. Sau khi ngài đã không chỉ định Tỳ-kheo nào
làm vị kế thừa ngài lãnh đạo Giáo hội, và đã tuyên bố Giáo Pháp là
uy quyền tối thượng đối với Tăng chúng, ngài dùng một ít thời gian
còn lại trên đường đi để suy xét Tăng chúng phải có thái độ ra sao
đối với bất cứ Tỳ-kheo nào có thể tự xưng mình đã nghe được Giáo
lý này hay Giáo lý nọ từ chính miệng bậc Ðạo Sư. Trong trường hợp
như thế, ngài dạy chư Tăng ở Bhoganagara rằng những lời của Tỳ-kheo
ấy phải được cân nhắc kỹ vì chúng có thể được chứng thực là tương
ứng với một bài kinh (sutta) và phù hợp với Luật (Vinaya).
Chỉ khi nào điều này được xác
định chắc chắn, các lời ấy mới có thể được công nhận là lời dạy
của đức Như Lai (DN 16 . 4. 8). Sự tuyên bố khẳng định trên đây chứng
tỏ đức Phật chắc chắn các Pháp thoại của ngài sẽ được ghi nhớ
trong tâm trí chư Tỳ-kheo và được truyền tụng mãi cho các thế hệ sau.
ÐẠI DIỆT ÐỘ
Tại Pàvà, (có lẽ là Fazilnagar hiện
nay, khoảng 16 km ở về phía đông nam Kasia), bậc Ðạo Sư và hội chúng của
ngài được người thợ rèn Cunda (Thuần-đà) mời thọ thực ngày hôm sau.
Ðể dành món đặc biệt dâng lên vị khách tôn quý, ngoài các món khác,
thợ rèn Cunda đã dọn món Sùkaramaddava. Món này đích xác là thứ
gì vẫn chưa chắc chắn. Một vài học giả nghĩ rằng đó là thịt heo, một
số khác cho là măng tre mềm mọc gần các trại heo, số khác nữa lại cho
là một loại nấm, có thể là nấm mèo. Nhưng dù đó là thứ gì đi nữa,
đức Phật cũng đã nhìn món ăn này với vẻ nghi ngờ, và bảo thợ rèn
Cunda đừng mời Tăng chúng món ấy. Tuy thế, chính ngài lại thọ dụng
món kia với mục đích không làm buồn lòng người thợ rèn có thiện ý
(DN 16. 4. 13).
Mối quan tâm này đối với vị thí
chủ là một sự sai lầm. Ðức Phật liền mắc bệnh huyết lỵ và chịu
nhiều cơn đau bụng dằn vặt. Dù yếu đuối và kiệt sức như vậy, ngài
vẫn rời Pàvà và tiến về Kusinàrà. Nhiều lần ngài bị bắt buộc phải
rẽ sang một bên để tháo dạ và nghỉ ngơi ở vệ đường.
Chứng đau bụng và huyết lỵ làm
mất nhiều nước ấy đi kèm với cơn khát. Khi ngài đòi uống nước, thị
giả Ànanda chỉ tay về phía con suối đã bị đám xe bò đi qua làm vẩn đục
nên chỉ có nước dơ bẩn không thể uống được - tốt hơn là nên tiếp
tục đi đến sông Kakutthà (nay là Bàdhi hay Barhi) không xa đó mấy. Song bậc
Ðạo Sư cương quyết yêu cầu, rồi ngài uống nước từ dòng suối ấy
mà ngay lúc này đã trở lại lắng yên và trong trẻo như cũ (DN 16. 4. 20).
Vừa lúc ấy có một nam tử từ bộ
tộc Malla đi đến. Tên người ấy là Pukkusa. Ông nói chuyện với đức Phật
thì hóa ra đó là Pukkusa, một đồ đệ của đạo sư Àlàra Kàlàma là người
xưa kia đức Phật đã học tập trước thời Giác Ngộ. Khi thiện nam
Pukkusa thấy các tấm y của bậc Ðại Ðạo Sư đang bệnh và thị giả
ngài đều vấy bẩn, ông liền bảo người hầu đem lại hai tấm y vàng
kim sắc dâng cúng đức Phật và tôn giả Ànanda. (DN 16. 4. 26)
Ngay khi thiện nam Pukkusa vừa khuất
dạng, hội chúng lại tiếp tục lên đường và đến sông Kakutthà, nơi đó
bậc Ðạo Sư uống nước, tắm rửa cùng nghỉ ngơi ở bờ bên kia, rồi
ngài dặn Sa-di Cundaka trải ngoại y lên mặt đất dưới các cây xoài. Sự
hiện diện của Sa-di Cundaka khiến đức Phật nhớ lại người thợ rèn
Cunda, tại nhà vị này ngài đã phải bị ngộ độc vì thức ăn kia, nên
ngài nhấn mạnh cho tôn giả Ànanda hiểu là Tăng chúng không nên khiển
trách người thợ rèn đã có thiện ý tối thượng (DN 16. 4. 37). Ngay khi ngài
lấy lại sức khoẻ đôi chút, cuộc hành trình lại tiếp tục như trước.
Bậc Ðạo Sư đã kiệt lực như vậy
vẫn cùng Tăng chúng lội qua sông Hirañ ñ avati (nay là sông Bé Gandak), đến
tận Kusinàrà, thủ đô thứ hai của bộ tộc Malla, nơi ngài đã biết vì
nhiều lần du hành trước kia (MN 103; AN 10. 44).
Khi ngài bảo ngài mỏi mệt và muốn
nằm xuống, tôn giả Ànanda sắp đặt chỗ nghỉ ngơi cho ngài dưới đôi
Sàla trong rừng Upavattana ở ven phía nam thành phố. Các cây Sàla (Shorea
robusta) đang nở rộ hoa, điều đó chỉ rõ các tháng ba và tư, trái với
truyền thống ghi bậc Ðạo Sư diệt độ vào tháng Vesakha (tư-năm). Ngài cố
gắng nghỉ ngơi, nằm nghiêng về phía hữu, có lẽ hơi co lại vì đau nhức.
Do mồ hôi tiết ra kèm với chứng đau bụng và xáo trộn đường ruột làm
ngài cảm thấy lạnh, ngài bảo Tỳ-kheo Upavàna đang quạt hầu ngài, đi
lui ra. (DN 16. 5. 1)
Nay ngài đã chắc chắn rằng từ nơi
đây trong rừng Sàla song thọ gần Kusinàrà ngài sẽ không bao giờ trở dậy
nữa. Tâm trí thanh thản, ngài dặn tôn giả Ànanda về những gì phải làm
với thân ngài. Chư Tăng không cần phải quan tâm về việc tang lễ của
ngài, mà chỉ nên tinh tấn nỗ lực để giải thoát. Có nhiều người đầy
tín tâm đối với đức Như Lai sẽ làm mọi sự cần thiết. (DN 16. 5. 10)
Tôn giả Ànanda vừa khóc vừa bước
ra ngoài bộc lộ nỗi ưu phiền: "Ôi, ta vẫn còn là kẻ hữu học,
ta còn phải tu tập nhiều (về phần ta). Thế mà nay bậc Ðạo Sư, người
đã thương tưởng ta, lại sắp diệt độ!".
Khi đức Phật nhận thấy thị giả
trung thành của ngài không ở đó, ngài cho gọi vị ấy vào và an ủi:
"Thôi đủ rồi, này Ànanda, đừng
phiền muộn khóc than. Ta đã chẳng thường bảo ông rằng chúng ta phải
chia lìa mọi vật thân thiết, khả ái đối với chúng ta, chúng ta phải từ
giã chúng vì không có vật gì tồn tại mãi mãi hay sao? Phàm vật gì được
sanh khởi, được thành hình, được tạo tác (do nghiệp (kamma) của các đời
trước) tất phải chịu biến hoại. Không thể nào có một vật như vậy
lại không tiêu diệt. Này Ànanda, từ lâu nay ông đã ở bên cạnh ta và chăm
sóc ta với lòng nhẫn nại, từ ái, ân cần tận tụy đem lại vô lượng
an lạc cho ta. Ông đã tạo được nhiều phước đức nhờ việc ấy. Hãy
tinh tấn nỗ lực, chẳng bao lâu ông sẽ đoạn trừ các lậu hoặc". (DN
16. 5. 14, giản lược)
Có lẽ nhân chuyến khất thực
sáng hôm sau, và chắc hẳn theo lời dặn của đức Phật, tôn giả Ànanda
đã báo tin bậc Ðạo Sư bị bệnh trong thành Kusinàra. Ngay sau đó, vô số
thị dân đi đến rừng Sàla song thọ để hội kiến bậc thượng thủ tôn
quý của Giáo đoàn, người mà họ đã từng nghe nhiều điều kỳ diệu
trong vòng bốn mươi lăm năm qua. Tôn giả Ànanda cố hết sức ngăn ngừa
cho bậc Ðạo Sư đang quá mệt nhọc khỏi bị phiền nhiễu.
Subhaddha, một Sa-môn ngoại đạo, tối
hôm ấy đến yết kiến bậc Ðạo Sư liền bị đưa ra ngoài, song đức Phật
nghe được câu chuyện, bèn bảo tôn giả Ànanda cho vị khách ấy vào. Khi
kết thúc đàm đạo với đức Phật, du sĩ Subhaddha thỉnh cầu bậc Ðạo
Sư nhận vị ấy vào Tăng đoàn, và tôn giả Ànanda làm lễ xuất gia (pabbajjà)
cho vị ấy. Du sĩ Subhaddha là người cuối cùng được nhận làm Sa-di trong
Giáo hội lúc đức Phật vẫn còn tại thế. Về sau, khi mãn hạn kỳ thử
thách dành cho các Sa-môn ngoại đạo, vị ấy cũng được thọ đại giới
Tỳ-kheo (upasampadà) (DN 16. 5. 19).
Việc đề phòng bất cứ Tỳ-kheo
nào đòi quyền lãnh đạo Giáo hội là chuyện quan trọng đối với đức
Phật đến độ ngay trước khi viên tịch, ngài còn nhấn mạnh lần nữa
chức năng hướng dẫn của Giáo Pháp đối với Tăng chúng:
"Này Ànanda, có thể một số
trong chư vị suy nghĩ: lời dạy của bậc Ðạo Sư đã mất, nay chúng ta
không còn bậc Ðạo Sư! Này Ànanda, không nên nghĩ như vậy. Pháp và Luật
mà ta đã thuyết giảng cho chư vị, sau khi ta diệt độ, sẽ là Ðạo Sư của
chư vị". (DN 16. 6. 1)
Ðiều này giả định trước là
không có điểm nào chưa sáng tỏ có thể đưa đến các kiến giải khác
nhau về sau. Vì vậy, đức Phật cho các Tỳ-kheo cơ hội cuối cùng để chất
vấn ngài:
"Này các Tỳ-kheo, có thể là một
vài Tỳ-kheo nghi ngờ hay phân vân gì về Phật, Pháp, Tăng, hay (Bát Chánh)
Ðạo, hay phương pháp thực hành (để giải thoát). Vậy các Tỳ-kheo, hãy
hỏi đi, kẻo ngày sau chư vị cảm thấy hối tiếc vì nghĩ: "Chúng ta
đã diện kiến bậc Ðạo Sư, tuy thế chúng ta đã không tự mình hỏi
Ngài". (DN 16. 6. 5)
Song chư Tỳ-kheo giữ im lặng. Sau
đó đức Phật lại cho chư vị một dịp may cuối cùng: nếu chư vị không
dám hỏi vì kính trọng ngài, thì chư vị hãy hỏi qua một bạn đồng tu.
Một lần nữa chư vị Tỳ-kheo lại giữ im lặng. Không có điểm gì không
sáng tỏ ở bất cứ nơi nào cả.
Ðêm đã khuya lắm rồi. Cảnh vật
hoàn toàn tĩnh mịch trong rừng Sàla khi bậc Ðạo Sư sắp mệnh chung nhắn
nhủ chư Tỳ-kheo một lần nữa:
"Này các Tỳ-kheo, ta khuyên bảo
chư vị: Các pháp hữu vi (các hành: sankhàra) đều vô thường, chịu biến
hoại. Hãy nỗ lực tinh tấn (để đạt giải thoát)!".
(DN 16. 6. 7)
Ðây là những lời cuối cùng của
đức Phật. Sau đó ngài lịm dần vào trạng thái bất động mà tôn giả
Anuruddha tuyên bố với các Tỳ-kheo là thiền định, và rồi không còn hồi
tỉnh nữa, bậc Ðạo Sư tám mươi tuổi đã đắc Niết-bàn vô dư y, một
trạng thái giải thoát khổ đau sau khi xả báo thân (DN 16. 6. 8). Ða số sử
gia ở Ấn Ðộ ghi sự kiện này vào năm 483 trước CN.
LỄ TRÀ-TỲ (HỎA TÁNG)
Giữa mọi người, bình tĩnh nhất
là tôn giả Anuruddha, em họ của đức Phật và là anh khác mẹ với tôn giả
Ànanda, vị ấy vừa an ủi chư Tỳ-kheo, trong đó có một số vị khóc
than, vừa nhắc lại những lời dạy của bậc Ðạo Sư đã diệt độ về
tính chất vô thường của vạn pháp. Ðến gần sáng, vị ấy bảo tôn giả
Ànanda đi vào thành Kusinàrà báo tin đức Như Lai diệt độ cho thị dân.
Trưởng lão Ànanda bao giờ cũng sẵn sàng thi hành sứ mạng này. Tôn giả
tường thuật sự kiện bậc Ðạo Sư diệt độ trong hội trường, nơi bộ
tộc Malla đang tập họp. Lập tức hội chúng ra lệnh cử hành lễ hỏa
táng. (DN 16. 6. 11)
Ðoạn văn miêu tả trong Kinh Ðiển
về lễ hỏa táng mang đầy ấn tượng một quang cảnh hoàn toàn hỗn độn.
Trong khi nhóm Tăng chúng ít ỏi chỉ gồm có các Tỳ-kheo Ànanda, Cundaka,
Anuruddha, Upavàna, và có thể thêm một vài người nữa, đã nhận được
huấn thị của đức Phật để mọi việc tổ chức tang lễ cho các đệ tử
tại gia, tuy nhiên, đám cư sĩ này rõ ràng không đông lắm tại Kusinàrà,
và không ai cảm thấy thực sự có trách nhiệm cả. Các dấu hiệu thương
tiếc theo hình thức vòng hoa và hương liệu quả thực rất dồi dào, nhưng
hình như không người nào sẵn sàng chịu phí tổn về số củi dùng cho
giàn hỏa táng. Lễ hỏa táng phải được đình hoãn lại từ một ngày đến
ngày hôm sau, chuyện kể nó còn kéo dài suốt cả tuần.
Hơn nữa, lại có sự bất đồng về
hình thức tang lễ phải cử hành ra sao. Bậc vĩ nhân vừa mệnh chung là một
người của bộ tộc Sakiya, một vị Hoàng tử Sát-đế-lỵ, nhưng còn là
một Sa-môn đối lập với nghi lễ Bà-la-môn giáo. Vậy hình thức tang lễ
nào mới thích hợp với ngài? Ngài phải được hỏa táng về hướng nam
hay hướng đông của kinh thành? Cuối cùng họ quyết định về hướng đông,
và khiêng di hài đức Phật được quấn vải kín đi vào thành bằng Bắc
Môn, rồi đi ra bằng Ðông Môn đến đền Makuta -bandhana, có lẽ nơi đó
được xem là hội trường để làm tang lễ, mở thông ra mọi phía, tại
địa điểm hỏa táng. (DN 16. 6. 13)
Trong lúc ấy Trưởng lão
Mahàkassapa (Ðại-Ca-diếp) đang trên đường đi đến Kusinàrà với một hội
chúng Tỳ-kheo, chắc hẳn với ý định an cư mùa mưa sắp tới ở Sàvatthi.
Sau khi hai tôn giả Sàriputta và Moggallàna tịch diệt, tôn giả Mahàkassapa
là vị Tỳ-kheo xuất sắc nhất trong Giáo hội, và nếu trước kia đức Phật
chỉ định người thừa kế, có lẽ ngài đã lựa chọn vị này. Ðó là một
vị Bà-la-môn gốc ở làng Mahàtittha trong quốc độ Magadha. Nhiều năm trước
kia, đức Phật đã đích thân mời vị ấy gia nhập Tăng đoàn khi hai vị
hội ngộ ở khoảng đường giữa Ràjagaha và Nàlanđà. Trong vòng một tuần
sau đó, Tỳ-kheo Kassapa đã đắc tối thắng trí (SN 16. 11) và như vậy trở
thành một vị A-la-hán.
Tôn giả Mahàkassapa tự hào được
mang ngoại y (Tăng-già-lê) bằng gai thô đã rách nát của bậc Ðạo Sư. Thật
ra vinh dự này của vị ấy chỉ do tình cờ. Một hôm bậc Giác Ngộ muốn
ngồi nghỉ dưới gốc cây sau chuyến du hành, tôn giả Kassapa đã xếp tấm
ngoại y của mình và mời bậc Ðạo Sư ngồi lên. Ðức Phật chấp thuận,
và đang lúc ngài cảm thấy đau lưng nên nhận ra rằng chiếc y này đặc
biệt êm dịu. Vì thế tôn giả Kassapa dâng ngài tấm y ấy và đổi lại,
đã nhận chiếc phấn tảo y rách nát không còn mặc được của bậc Ðạo
Sư. Căn cứ vào việc này, vị ấy tự xưng mình là "con đích thực
của đức Thế Tôn, được sinh ra từ miệng ngài", tức là người
xứng đáng với những nhiệm vụ đặc biệt (SN 16. 11).
Ðức Phật lúc nào cũng hết sức
tín nhiệm tôn giả Kassapa, ngài đã đến thăm khi vị ấy mắc bệnh nặng
(SN 46. 2. 4), và trước các Tỳ-kheo trẻ hơn, ngài vẫn ca ngợi tôn giả
là một Tỳ-kheo sống đời gương mẫu và thiểu dục tri túc (SN 16. 1). Tuy
nhiên đồng thời, không phải ngài không hiểu rõ tính tình khó khăn của
tôn giả Kassapa, và cách tôn giả này yêu cầu sự rèn luyện bản thân tối
đa từ phía các Tỳ-kheo trẻ mà không phải bao giờ cũng tỏ ra thông cảm
đầy đủ hoặc chiếu cố khoan dung.
Có một Sa-di, bị dồn vào chỗ tuyệt
vọng đâm liều lĩnh đến độ đốt thảo am của tôn giả vừa mới dựng
để an cư mùa mưa (Jàt 321), việc ấy chẳng làm được gì để tăng thêm
các mối thiện cảm của Trưởng lão Kassapa đối với thế hệ Tỳ-kheo trẻ!
Hơn một lần tôn giả đã từ chối thẳng ngay lời đức Phật yêu cầu
tôn giả giáo giới đám Tỳ-kheo trẻ (SN 16. 6, 7, 8).
Giờ đây, chính tôn giả
Mahàkassapa này cùng với một số Tỳ-kheo đang đi trên đường từ Pàvà
đến Kusinàrà và đang ngồi nghỉ dưới một gốc cây thì một du sĩ phái
Àjìvika vừa đi tới. Cuộc đàm thoại sau đây diễn ra:
Tỳ-kheo Mahàkassapa: Này hiền giả,
hiền giả có biết bậc Ðạo Sư của chúng tôi không?
Du sĩ Àjìvika: Dĩ nhiên tôi biết.
Sa-môn Gotama đã đắc Niết-bàn tối hậu cách đây một tuần. (DN 16.
6. 19)
Ðây là một tin buồn mà chỉ những
Tỳ-kheo đạt trí tuệ cao thâm mới có thể chấp nhận một cách bình thản,
còn lại tất cả đều khóc than. Ngoại trừ Tỳ-kheo Subhadda - ta không nên
lẫn lộn với Sa-di Subhadda trùng tên, người vừa được đức Phật cho phép
xuất gia ngay đêm ngài sắp tịch diệt - Tỳ-kheo Subhadda này, trước kia là
thợ hớt tóc ở làng Àtumà, chỉ vừa mới xuất gia lúc tuổi đã cao, liền
tuyên bố: "Thôi đủ rồi, các hiền giả, đừng than khóc bi ai.
Chúng ta được hoàn toàn thoát khỏi vị Ðại Sa-môn. Trước kia chúng ta
luôn bị phiền nhiễu vì lời nói của ngài: "Chư vị được phép làm
việc này. Chư vị không được phép làm việc kia!". Nay chúng ta có thể
làm gì chúng ta thích và không làm những gì chúng ta không thích!" (DN
16. 6. 20).
Tôn giả Mahàkassapa không đáp lại
những lời này, song chẳng bao lâu đã có lý do để nhớ lại chúng. Lập
tức tôn giả vội vàng đi ngay cùng chư Tăng đến Kusinàrà tận địa điểm
hỏa táng vừa kịp nhận thấy giàn hỏa thiêu di hài đức Phật chưa được
châm lửa. Số lượng củi gỗ được thâu góp về đây rõ ràng quá ít
ỏi vì sự thật cho thấy là đôi chân di hài đã được quấn vải kín vẫn
còn lộ ra.
Sau khi tôn giả Mahàkassapa cùng các
Tỳ-kheo kia đã đi nhiễu quanh di hài ba lần về phía hữu (theo hướng kim
đồng hồ) và đã chắp tay cúi đầu đảnh lễ xong, giàn hỏa bắt đầu
được châm lửa. Khi giàn hỏa đã cháy hết hoàn toàn, đám tro được dập
tắt với nước lạnh. Di hài của đức Phật chỉ còn lại một ít xương
xá-lợi, xương được đặt vào một bình đất tại địa điểm hỏa táng
và các người Malla đánh dấu chỗ này bằng cách cắm các cây thương (dáo)
xuống mặt đất chung quanh. (DN 16. 6. 22)
Hình như bộ tộc Malla ở Kusinàrà
không hề nghĩ rằng các bộ tộc khác có thể đòi quyền hưởng xá-lợi
của đức Phật. Vì thế họ rất kinh ngạc khi sứ giả từ khắp mọi phương
dồn dập đến Kusinàrà yêu cầu được chia một phần xá-lợi Phật.
Ban đầu họ không muốn nhượng bớt
đi bất cứ phần nào xá-lợi, nhưng cuối cùng phải nghe theo lời khuyên
nhủ của vị Bà-la-môn Dona đảm trách lễ hỏa táng, vị này nêu rõ một
thái độ ích kỷ hẹp hòi đối với xá-lợi sẽ dẫn đến tranh chấp bất
ổn, ngoài việc trái với lời dạy của bậc Ðạo Sư vừa quá cố, người
trước kia bao giờ cũng ủng hộ hòa bình (DN 16. 6. 25). Vì vậy, Bà-la-môn
Dona chia xá-lợi thành tám phần đều nhau, mỗi phần đó đưa về:
- Ðại Vương Ajàtasattu nước Magadha ở Ràjagaha.
- Bộ tộc Licchavì ở Vesàli.
- Bộ tộc Sakiya ở (Tân) Kapilavatthu.
- Bộ tộc Bulì ở Allakappa.
- Bộ tộc Koliya ở Ràmagàma.
- Một Bà-la-môn ở Vethadìpa.
- Bộ tộc Malla ở Pava.
- Bộ tộc Malla ở Kusinàrà giữ phần thứ tám.
Khi xá-lợi đã được chia như vậy
xong thì một sứ giả từ bộ tộc Moriya ở Pipphalivana đến đòi chia phần.
Vị ấy đành phải chịu nhận một ít tro ở giàn hỏa. Còn Bà-la-môn Dona
giữ lấy cho mình cái bình đất đã đựng xá-lợi sau khi hỏa thiêu và
được dùng để chia phần (DN 16. 6. 24). Tất cả mười bình xá-lợi hay kỷ
vật ấy đều được tôn thờ trong mười ngôi tháp (DN 16. 6. 27).
Cho đến nay, hai bình trong số ấy
đã được khám phá và được các nhà khảo cổ quan sát. Chiếc bình nhỏ
hình cầu với lời ghi chú của người mộ đạo trên nắp mà ngày xưa bộ
tộc Sakiya làm lễ nhập tháp ở địa điểm nay là vùng Pipràvà
(Kapilavatthu II) được đặt trong Bảo tàng Quốc gia Ấn Ðộ ở Calcutta, nhưng
không có tro, vì tro này đã được đem tặng nhà vua Xiêm (Thái Lan) nhiều
thập niên trước.
Còn chiếc bình đậy kín mà người
Licchavì đã bảo tồn phần xá-lợi dành cho họ được đào lên tại
Vesàli năm 1958. Bình này chứa phần di cốt tro cùng nhiều vật khác và
ngày nay thuộc quyền giám hộ của Ban Khảo cổ và Bảo tàng Chính phủ Quốc
gia Bihàr ở Patna.
KUSINÀRÀ - ÐỊA ÐIỂM KHẢO CỔ
Theo Tôn giả Ànanda, thành Kusinàrà
của người Malla là một "thị trấn nhỏ nghèo khổ toàn nhà tranh
vách đất nằm lùi sâu vào phía trong rừng rậm" (DN 16. 517). Ngày
nay không còn tìm thấy dấu vết nào của thành này nữa. Danh từ Kusinàrà
chỉ xác định các đền đài kỷ niệm địa điểm Ðại Diệt Ðộ, nơi
ngày nay ta có thể đến rất thuận tiện từ Gorakhpur bằng xe hàng. Khoảng
cách ấy độ chừng 55km đi về hướng đông.
Trước khi đến làng Kasia chừng
2km, ta rẽ về Nam và đến tận địa điểm đức Phật viên tịch, rừng
Sàla song thọ sau 500 m nữa. Nỗ lực của chính phủ Ấn Ðộ cố trồng lại
rừng cây Sàla ở vùng này hiện còn đang thời sơ khai, song hứa hẹn nhiều
thành công tốt đẹp.
Nổi bật nhất ở địa điểm này
là Tháp Niết-bàn (Nibbàna Stupa), cao chừng 20m, phần cốt nguyên thủy
của tháp này được bọc trong nhiều lớp đất sét nung, có lẽ đã hiện
diện từ thế kỷ thứ 3 sau CN. Tháp được phục chế lại hình bán cầu
thẳng đứng vào năm 1927. Chiều cao ngày xưa của tháp được phỏng tính
vào khoảng 45 m. Ngay trước tháp và trong cùng một khuôn viên hình chữ nhật
là đền Niết-bàn, được trùng tu 1956, đó là một hội trường có mái
hình lăng trụ theo kiểu các tinh xá (vihàra) có sườn tre vòng cung thời
nguyên thủy. Ðền thờ một bức tượng đức Phật Nhập Niết-bàn, nằm
nghiêng về phía hữu, tượng điêu khắc bằng sa thạch dài 6,2m, xuất hiện
từ thế kỷ thứ năm.
Về phía tây, bắc và đông bắc
hai đền thờ này còn nhiều di tích các tinh xá, ngôi cổ nhất khoảng thế
kỷ thứ ba sau CN và ngôi mới nhất vào thế kỷ mười hai. Các tường nhà
còn được bảo tồn lại một phần cao đến bờ vai, đủ cho ta nhận ra
khoảng sân đình bên trong và các am thất của chư Tăng xung quanh sân ấy.
Sự kiên cố của phần công trình bằng gạch trong các tinh xá này đem lại
cảm tưởng hình như ngày xưa chúng có nhiều tầng.
Ngành nghiên cứu khảo cổ học đã
chứng minh rằng quần thể này bị hỏa hoạn thiêu hủy vào khoảng thế kỷ
thứ tư hoặc thứ năm sau CN. Nhà chiêm bái Pháp Hiển của Trung Quốc vẫn
còn thấy có vài Tỳ-kheo cư trú tại đây vào thế kỷ thứ năm, nhưng Huyền
Trang, một nhà du hành khác của Trung Quốc qua đây vào thế kỷ thứ bảy
lại miêu tả vùng này bị phá hoại điêu tàn. Về sau nó hồi sinh, vào
khoảng giữa thứ kỷ thứ chín và mười hai có vài tinh xá mới được dựng
lên. Nhưng vào thế kỷ thứ mười ba, mọi hoạt động tôn giáo hình như
đã chấm dứt.
Ngôi tháp đánh dấu địa điểm hành
lễ trà-tỳ và phân chia xá-lợi Phật ở vào khoảng 1,5km phía đông Tháp
Niết-bàn và ngày nay được dân địa phương gọi bằng tên Sanskrit là Angarastupa
(Tháp Di Cốt) hoặc trong tiếng Hindì gọi là Ràmabhàr-tila (Ðỉnh
Ràmabhàr) theo tên Hồ Ràmabhàr ở phía đông. Tháp dựng trên một đế phẳng
và có đường kính 34 m. Nay không thể đoán được chiều cao ngày xưa, bởi
vì đám người săn lùng bảo vật và ăn trộm gạch đã lấy đi dần dần
phần trên tháp qua bao thế kỷ nay. Về phương diện khảo cổ học, tháp
không còn giá trị quan trọng nữa, song đối với bất kỳ một du khách
hành hương chiêm bái nào quen thuộc với lịch sử cuộc đời đức Phật
thì đây quả là một thánh tích đầy kỷ niệm thiêng liêng gây bao cảm
xúc bồi hồi.
M ục lục | Ia | Ib | Ic | Id | IIa | IIb | IIIa | IIIb | IIIc | IVa | IVb | IVc | IVd | Va | Vb | VIa | VIb | VII | VIII